Thursday, November 29, 2018

20 câu nói này, vận vào ai cũng có lúc đúng: Đọc và ngẫm, bạn sẽ được nhiều hơn mất!

Hạnh phúc, với những người khác nhau, tiêu chuẩn cũng rất khác nhau.
Thứ trẻ nhỏ mong muốn có được rất giản đơn, có đồ chơi, có đồ ăn, đó chính là cuộc sống hạnh phúc.
Còn với người lớn, thứ chúng ta mong muốn phức tạp hơn rất nhiều, khi đã có cơm ăn áo mặc, có khả năng chi trả cho đời sống tinh thần, chúng ta sẽ muốn có nhà, có xe, khi đã có rồi lại mong có nhà to hơn, xe đẹp hơn.
Đây chính là lý do vì sao người lớn rất tốn công tốn sức trong việc kiếm tìm hạnh phúc trong khi với trẻ nhỏ, việc đó lại rất dễ dàng.
Chỉ cần chúng ta yêu cầu đơn giản hơn một chút, hạnh phúc sẽ đến, dễ dàng hơn rất nhiều.  


1. Khi còn sống, con người thường hay cho rằng ngày mai còn dài, thiếu gì cơ hội để gặp gỡ nhau, nhưng thực ra, đời người là một phép trừ, gặp nhau một lần cũng là đã bớt đi một lần gặp gỡ.

2. Trong những lúc nóng nảy, giận dữ, tuyệt đối không dùng những lời lẽ cay nghiệt, tuyệt tình làm tổn thương người yêu thương chúng ta.

3. Đừng chỉ dùng cái tai đi tìm hiểu người khác.

4. Có những lúc, không có lần sau, không có cơ hội lặp lại, không có sự tạm dừng rồi lại tiếp tục. Có những lúc, bỏ lỡ hiện tại sẽ vĩnh viễn không còn cơ hội trong tương lai.

5. Dùng thái độ cam tâm tình nguyện, bạn sẽ có một cuộc sống an nhiên dù gặp phải bất cứ cảnh ngộ nào.

6. Tất cả các vấn đề suy cho cùng đều là vấn đề của bản thân.

7. Khi người ta nghèo, phải ra ngoài kiếm sống, lăn lộn mà ít có thời gian ở nhà. Giàu rồi, phải ở nhà nhiều hơn, hạn chế ở bên ngoài, đó mới là nghệ thuật sống.

8. Có những lúc, bạn rõ ràng đã tha thứ cho người đó nhưng chúng ta không thể vui lên được, đó là bởi bạn đã quên mất việc tha thứ cho bản thân mình.


9. Mỗi một người, có sinh sẽ có tử, nhưng chỉ cần chúng ta sống, chúng ta phải sống theo cách tốt nhất. Có thể không có tình yêu, không có danh hiệu nhưng không thể không có niềm vui.

10. Những thứ bản thân ta không cần đến, có tốt đến đâu cũng chỉ là rác.


11. Tuổi trẻ là tài sản, là sự giàu có lớn nhất của đời người. Mỗi chúng ta cần nhân thêm thời khắc đáng trân trọng đó, dù nghèo khó cũng không cần phải sợ hãi.
Hiểu cách bồi dưỡng bản thân, hiểu thế nào là những thứ quý giá, hiểu nên đầu tư vào đâu, hiểu nên tiết kiệm ở chỗ nào, đó là những điều quan trong nhất trong suốt cả đời người.


12. Có một ngày bạn sẽ hiểu, lương thiện sẽ khó hơn thông minh. Thông minh là thứ trời phú còn lương thiện, đó là một lựa chọn.

13. Bạn lợi hại đến mức nào không nằm ở việc bạn quen biết bao nhiêu người mà thể hiện ở lúc bạn gặp hoạn nạn, có bao nhiêu người quen biết bạn.

14. Với những việc không cần giải thích, bắt đầu từ thời khắc bạn mở miệng, bạn đã thua rồi!

15. Một khi số tiền mà cuộc sống cần đến đã đủ, hạnh phúc lớn nhất là dùng thu nhập của bạn hoàn thành giấc mơ của bạn, dang rộng đôi cánh của bạn để làm những điều mình thích. Hãy để sinh mệnh được trải nghiệm những chuyến đi khác nhau!


16. Đừng phung phí quá nhiều tiền vào việc mua sắm quần áo, mua ít đi một chút nhưng hãy đầu tư vào vài bộ thực sự "chất".
Hãy thay đổi không khí bằng việc ra ngoài dùng bữa, mời khách ăn uống. Nhưng nếu mời, hãy mời những người có lý tưởng, có suy nghĩ, nỗ lực hơn mình để học hỏi, trau dồi bản thân.

17. Phụ nữ không có sức cuốn hút mới nói đàn ông trăng hoa, đàn ông không có thực lực mới cảm thấy phụ nữ thực dụng.

18. Hãy nói một lời xin lỗi với bản thân, những năm qua, hẳn có rất nhiều người đã không học được cách yêu chính bản thân mình!  

19. Khi nghèo nhất định cần rộng rãi, giàu rồi, chớ có vung tay quá trán. Sinh mệnh đã khôi phục được sự giản đơn, đã trở nên yên bình trở lại nhưng hành thiện nhiều hơn là điều cần thiết.

20. Con người ta khi nghèo không nên tính toán chi ly, cũng không phải uốn mình nịnh nọt người khác, đó gọi là người nghèo nhưng chí không nghèo. 
Khi giàu, phải học cách đối xử với người khác tốt hơn khi người khác đối tốt với mình, phải biết nâng lên, đặt xuống, biết trân trọng nhưng cũng cần biết buông bỏ.
--------------------
The Internet.


Saturday, November 10, 2018

Đức Giáo Hoàng Phanxicô - "Thiên Chúa Thì Trẻ"

Tựa Một Cuốn Sách Mới



Cuốn sách “Thiên Chúa Thì Trẻ” có một bài phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Phanxicô, vốn đang nói với giới trẻ trên toàn thế giới.

Cuốn sách sẽ được ra mắt bằng tiếng Ý, Tây Ban Nha, Đức, Pháp, Bồ Đào Nha, Brazil, Ba Lan, Croatia, Slovak, Slovania, Séc, và Tiếng Anh vốn sẽ sẵn sàng kịp thời gian cho Thượng Hội Đồng Giám Mục về Giới Trẻ vào Tháng 10. Dưới đây là một vài trích dẫn từ tập sách.

Giới Trẻ là những ngôn sứ có cánh
Một người trẻ thì giống như một vị ngôn sứ, và cần phải nhận ra điều đó. Người trẻ cần ý thức về việc có đôi cánh của một vị ngôn sứ, thái độ của một ngôn sứ, khả năng ngôn sứ, về lời nói cũng như hành động.
Một ngôn sứ của thời nay có khả năng,
đúng, khả năng khước từ, nhưng cũng có khả năng tiếp nhận.
Người trẻ cần có cả hai khả năng này. Họ biết cách khước từ, nhưng nhiều lần họ không thể hiện sự khước từ cách tốt đẹp. Họ cũng có khả năng nghiên cứu về tương lai và nhìn về phía trước.
Người trẻ ngày nay đang lớn lên trong một xã hội mất gốc
Để hiểu một người trẻ ngày nay bạn phải hiểu họ trong sự chuyển động, bạn không thể ngồi yên và giả vờ rằng bạn đang ở cùng tần sóng. Nếu bạn muốn đối thoại với một người trẻ thì bạn phải ‘di động’,
và rồi người trẻ ấy sẽ chậm lại để lắng nghe chúng ta,
người trẻ sẽ quyết định làm điều đó.
Và khi người trẻ chậm lại, thì một chuyển động khác bắt đầu: một chuyển động mà trong đó người trẻ sẽ tự điều tiết nhịp độ của chính bản thân mình cách chậm rãi để được nghe
và những người lớn tuổi hơn sẽ tăng tốc để khám phá ra điểm gặp gỡ.
Cả hai đều đang thực hiện nỗ lực: người trẻ thì đi chậm lạingười lớn tuổi thì đi nhanh lên.
Điều này có thề cho thấy một bước tiến. (...) Thường những người trưởng thành hay nhổ rễ người trẻ, họ xóa bỏ các cội rễ của người trẻ và thay vì giúp đỡ họ trở thành các ngôn sứ vì thiện ích cho xã hội, họ biến các bạn trẻ thành những đứa trẻ mồ côi và loại trừ chúng. Người trẻ ngày nay đang lớn lên trong một xã hội mất gốc.
Xin người trẻ tha thứ cho chúng ta
Chúng ta phải xin người trẻ của chúng ta tha thứ vì chúng ta đã luôn không coi trọng họ. Chúng ta không luôn giúp người trẻ nhìn thấy con đường và tạo ra các phương thế có thể giúp họ không mang lấy kết cục bị loại trừ. Chúng ta thường không biết cách giúp họ mơ và chúng ta không có khả năng khích lệ niềm say mê nơi họ. Thật bình thường để kiếm tiền để xây dựng một gia đình, một tương lai, và vì thế rút ra khỏi vị trí tùy thuộc vào người lớn mà người trẻ ngày nay đã phải chịu đựng quá lâu rồi. Điều quan trọng là tránh động cơ tích lũy.
Công việc nuôi dưỡng linh hồn chúng ta, không phải đồng tiền
Mỗi người cần phải có khả năng làm việc. Mỗi người cần phải có khả năng làm việc cụ thể, khả năng thể hiện chính mình và vì người thân yêu mà họ có thể kiếm sống.
Khai thác trục lợi là không thể chấp nhận được.
Thật không thể chấp nhận được việc nhiều người trẻ đang bị những người chủ bóc lột khi đưa ra những lời hứa hẹn giả tạo về các khoản lương vốn không bao giờ thành hiện thực, với lời biện minh rằng họ còn trẻ và cần kinh nghiệm.
Thật không thể chấp nhận được là việc các ông chủ mong đợi người trẻ làm công việc nguy hiểm – ngay cả không trả lương – như thường xảy ra. (...)
Người trẻ mời gọi chúng ta lắng nghe họ và chúng ta có nghĩa vụ lắng nghe họ và đón tiếp họ, chứ không phải khai thác họ. Không có những lời biện minh được áp dụng ở đây.
Có quá nhiều bậc cha mẹ nuôi dạy con theo nền văn hóa hời hợt
Dường như là thật tồi tệ để lớn lên, để trưởng thành, để theo đúng tuổi đúng thời. Điều đó đồng nghĩa với một đời sống tàn tạ, không thỏa mãn. Ngày nay dường như mọi sự được ngụy tạo và giả trá.
 Điều đó giống như thể là không có một ý nghĩa trong việc sống. Gần đây tôi đã nói về thật buồn biết bao khi có ai đó muốn căng da mặt ngay cả cho tâm hồn!
Thật buồn biết bao là người ta muốn xóa bỏ những nếp nhăn của quá nhiều kinh nghiệm, của quá nhiều niềm vui và nỗi sầu khổ!
Quá thường là chính người lớn lại đóng vai những cháu tuổi tin, là những người đang cảm thấy đặt chính họ vào trong cấp độ của một trẻ vị thành niên, nhưng lại không muốn hiểu rằng đây là một thứ cám dỗ. Đây là việc đang đùa giỡn với ma quỷ.
Tôi không thể hiểu làm sao lại có thể được để một người lớn lại cảm thấy rằng họ đang trong thế cạnh tranh với một bạn trẻ, nhưng thật không may là điều này xảy ra ngày càng nhiều hơn. (...)
Có quá nhiều bậc cha mẹ mang não trạng vị thành niên, là những người đang sống một đời sống hời hợt và, bất luận là họ nhận ra hay không, thì đang làm cho các con của họ thành nạn nhân của việc duy trì cuộc chơi chóng qua này.
Vì một mặt họ đang nuôi dạy con cái theo định hướng của nền văn hóa hời hợt,
nhưng mặt khác thì họ lại nuôi dạy con mình luôn bám rễ vào một xã hội mà chúng ta chỉ có thể định nghĩa là “bị mất gốc”.
Những người lớn tuổi biết mơ và những ngôn sứ trẻ là ơn cứu độ cho một xã hội đã bị mất gốc
Ngày nay, những mạng xã hội dường như mang lại cho chúng ta không gian của sự kết nối này với người khác; trang mạng giúp cho người trẻ cảm thấy là một phần của một nhóm độc nhất.
Nhưng vấn đề là mạng Internet mang lại môi trường ảo của nó: trang mạng đưa người trẻ vào trong không khí và vì lý do này mà nó cực kỳ mang tính chóng qua. (...)
Đối thoại có sức mạnh để cứu chúng ta, tôi nghĩ, đối thoại của người trẻ với người lớn tuổi: một sự tương tác giữa người già và người trẻ, ngay cả việc loại trừ người lớn một cách tạm thời.
Người trẻ và người lớn tuổi cần phải trò chuyện với nhau
và cần phải thực hiện việc này càng ngày càng thường xuyên hơn.
 Điều này là rất khẩn thiết! Và những người đã lớn tuổi phải đưa ra sáng kiến nhiều như người trẻ. (...)
Nhưng xã hội này lại loại trừ cả hai đối tượng này. Xã hội này loại trừ người trẻ nhiều ngang như người lớn tuổi. Nhưng ơn cứu độ của người già là mang lại cho người trẻ ký ức, điều này giúp cho người già thật sự là những người biết mơ về tương lai; trong khi ơn cứu độ của người trẻ là đón nhận lấy lời dạy này, những giấc mơ này, và mang chúng một cách mang tính ngôn sứ đi vào tương lai. (...)
 Những người lớn tuổi biết mơ và những ngôn sứ trẻ là con đường ơn cứu độ cho xã hội mất ngốc của chúng ta: hai thế hệ bị loại bỏ có thể cứu mọi người.
Thiên Chúa trẻ vì “Ngài đổi mới mọi sự” và vì Ngài có xã hội tính
Thiên Chúa là Đấng luôn luôn đổi mới vì Ngài luôn luôn mới:
Thiên Chúa thì trẻ!
Thiên Chúa là Đấng Hằng Hữu vốn không có thời gian, nhưng lại có thể đổi mới, có thể làm sống lại chính Ngài cách liên lỉ và làm sống lại mọi sự. Những nét đặc thù nhất của người trẻ cũng là những nét đặc thù của chính Thiên Chúa.
Ngài trẻ vì “Ngài đổi mới mọi sự” và Ngài yêu những sự mới mẻ;
Ngài làm kinh ngạc và yêu thích làm cho kinh ngạc;
vì Ngài biết cách mơ và Ngài khao khát những giấc mơ của chúng ta;
vì Ngài mạnh mẽ và nhiệt thành;
vì Ngài xây dựng các mối quan hệ và mời gọi chúng ta hãy làm như thế, Ngài mang tính xã hội.
Tôi nghĩ về một sự hình dung của người trẻ và tôi thấy rằng họ cũng thủ đắc khả năng để là “vĩnh cửu”, đưa sự ngây thơ, sự sáng tạo của họ, lòng can đảm của họ, sức sống của họ đi vào trong thực tế khi được đồng hành bởi những giấc mơ và sự khôn ngoan của người lớn tuổi của họ.
Đó là một vòng tròn khép kín, vốn tạo ra một sự kế thừa mới và nó nhắc nhớ tôi về hình ảnh của vĩnh cửu.
Về tác giả tập sách
Thomas Leoncini, là một nhà báo và là tác giả người Ý. Trong cuốn sách Born Liquid của ông viết chung với nhà xã hội học Zygmunt Bauman, đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất tại Ý.
Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Vatican News)
https://tramtubensuoi.blogspot.com/2018/11/uc-giao-hoang-phanxico-thien-chua-thi.html

Friday, November 9, 2018


Chuyện ông Tư chết mà vui


Ông Tư bị ung thư và biết chắc không thể sống lâu hơn sáu tháng. Ông bình tĩnh chờ cái chết, và vui vẻ sống những ngày ngắn ngủi còn lại, mà không bi ai, không sợ hãi. Ông muốn sau khi chết, gia đình làm đám tang theo ý riêng của ông.

Nếu có ai biết ông Tư đang cận kề cái chết mà ái ngại cho ông, thì ông cười vui mà an ủi họ - chứ không phải là họ an ủi ông - rằng, nếu tin theo đạo Chúa, thì khi chết được về thiên đàng, ngồi dưới chân Chúa, sung sướng thế sao mà ai cũng sợ chết ?
Nếu theo đạo Phật, thì khi chết cũng sẽ về Tây Phương Cực Lạc, vĩnh cửu an bình, thì mừng vui chứ sao lại bi ai ? Và nếu nói theo đức Đạt Lai Lạt Ma, thì cái xác thân ở trần gian, có thể ví như bộ áo quần ta mang, khi nó đã sờn cũ, xấu xí, rách rưới mục nát rồi, thì nên bỏ đi, mà mang bộ áo quần khác, đại ý nói đi đầu thai kiếp khác, mang thân xác mới hơn.

Ông Tư nói với bạn rằng, thân xác ông bây giờ như cái quần đã mục mông, rách đáy, không còn che được cái muốn che, thì phải bỏ đi, không xài nữa là hơn.

Bởi vậy, ông bình tĩnh đón chờ cái chết cận kề. Khi biết ông bị ung thư sắp chết, thì phút đầu tiên, ông lặng người đi. Nhưng rất mau sau đó, ông nghĩ ra rằng bây giờ chỉ còn hai con đường để lựa chọn.

Một là rầu rĩ bi ai, than thân trách phận, oán thán trời đất, làm cho những ngày ngắn ngủi còn lại trở thành u ám, khổ sở, muộn phiền. Hai là bình tĩnh chấp nhận điều không thể tránh được với thái độ tích cực, lạc quan, vui vẻ. Làm cho những ngày còn lại thành tươi vui, tốt đẹp và ý nghĩa hơn. Khi ra đi sẽ không có chút tiếc thương vướng bận.

Ông chọn con đường sau, nên không buồn bã , không hoang mang, không bi ai. Ông thấy cuộc đời bỗng đáng yêu hơn, đẹp hơn. Ông mở lòng vui vẻ đón nhận từng thời khắc, từng ngày còn lại.

Mỗi sáng dậy, ông ca hát nhạc vui, và nói chuyện khôi hài cùng vợ con. Ông cố làm đẹp lòng mọi người, vì ông nghĩ rằng, sau khi nhắm mắt nằm xuống, thì dù có muốn tử tế với những người thân thương, cũng không còn làm được nữa.



Ông Tư dặn thêm vợ rằng đừng đăng báo, không đăng cáo phó gì cả. Đừng làm rộn, bận trí bà con gần xa, buộc họ phải thăm viếng. Không nên để phiền ai phúng điếu chia buồn. Ông đưa tờ báo cho bà, và nói:
Em nhìn vào mấy cái cáo phó nầy đây, đọc thấy buồn cười : Chúng tôi đau đớn báo tin cho thân bằng quyến thuộc: Ông Nguyễn Văn Mỗ đã được Chúa gọi về vào ngày , tháng, năm, hưởng thọ 82 tuổi... Được Chúa gọi thì phải vui mừng, sung sướng, chứ sao lại đau đớn báo tin? Về với Chúa là khổ lắm sao? Có đi tù cải tạo đâu mà đau buồn ?

Đáng ra phải cáo phó bằng câu : " Chúng tôi hoan hỉ báo tin cùng thân bằng quyến thuộc rằng, Ông Nguyễn văn Mỗ đã được Chúa gọi về vào ngày, tháng, năm,..". Và đây, một cáo phó khác, cũng " khóc báo " với thân bằng quyến thuộc là thân nhân chúng tôi đã về cõi Phật. Về cõi ma vương quỷ sứ mới khóc báo, chứ về cõi Phật, sướng quá, mà khóc cái nỗi gì ?

Mất cái gì mới ngại, chứ mất cái khổ đau hành hạ, thì cầu cho mất sớm, mất đi càng nhiều càng mau, càng tốt. Anh nghe nói người Lào có quan niệm rất hay về lẽ sống sự chết. Khi trong gia đình có người chết, họ không bao giờ khóc lóc rầu rĩ, mà bình tĩnh an nhiên, chắc rằng họ đã thấm nhuần cái lẽ thâm sâu của Phật giáo, biết chết là giải thoát, rũ sạch nợ đời.

Cuộc đời, có thể ví như một đêm, không đi ngủ lúc chín mười giờ, thì mười hai giờ, một giờ sáng cũng phải đi ngủ. Nếu đêm không vui, thì tội gì không đi ngủ sớm cho khỏe, mà phải thức để nỗi buồn gặm nhấm.

Nhiều người sống với thái độ như sẽ không bao giờ chết, cho nên tích tụ của cải, bao nhiêu cũng không vừa, làm nhiều điều không đúng, không phải. Bởi vậy, khi biết mình sắp chết, thì hốt hoảng khóc lóc, bi ai, mà vẫn không tránh được. Nhiều vị vua chúa đời xưa cũng muốn sống đời, nên uống thuốc trường sinh, mà ngộ độc chết sớm.

Thấy ông tươi vui, người biết ông có bệnh sắp chết, cũng quên mất là ông đang bệnh, người không biết bệnh trạng của ông, thì ông cũng không muốn nói ra làm gì. Ông đưa bà và hai con đi chơi một chuyến trên du thuyền. Ông tham gia các cuộc chơi tập thể trên du thuyền như hát hò, nhảy múa ca hát, tham gia các buổi hòa nhạc, uống rượu, cho đến khi mãn cuộc. Ông vui vẻ, bình tĩnh đến nỗi nhiều khi bà quên mất là vợ chồng không còn bên nhau bao lâu nữa.

Ông Tư chuẩn bị tinh thần cho vợ, cho con, để chấp nhận một sự thực không tránh được. Chấp nhận với sự bình tĩnh, sáng suốt, không vui vẻ nhưng không bi ai. Có người nói cho ông Tư nghe về kinh nghiệm của những kẻ đã chết thật rồi, mà sống lại nhờ sự mầu nhiệm nào đó. Rằng khi chết, thì thấy mình đi vào một vùng ánh sáng lạ, rất hân hoan sung sướng, khoái cảm tràn trề. Bởi vậy , nên người đã trải qua cận tử, thì không còn sợ chết nữa, mà đón nhận như là một ân huệ của trời đất.

Về việc đóng tiền cho người khác để mua hòm và mai táng

Kêu gọi thì tôi đóng tiền, chứ thực tình trong lòng tôi nghĩ khác. Chết thì hỏa thiêu là đẹp nhất, tốt nhất và lại vệ sinh. Chôn xuống đất cho dòi bọ nó rúc rỉa, cho sình thối chứ có được gì. Một vạn cái xác, mới có được một cái không thối rữa, mà cũng khô đét nằm nhăn răng ra, hôi hám xấu xí. Nằm chật chội trong tối tăm âm u, dưới đất lạnh lẽo, chứ có sung sướng gì đâu.


Rồi lâu ngày, thịt da cũng rữa, xương cũng mục. Được bao nhiêu năm? Mà cứ nghĩ kỹ xem, nếu mỗi người chết phải có một nấm mồ chừng hai thước vuông, thì trên thế giới nầy từ triệu năm trước đến nay, và nhiều triệu năm sau nữa, tỉ tỉ người đã chết và sẽ chết, lấy đâu ra đất mà chôn. Không lẽ cả thế giới nầy chẳng còn một tấc đất mà trồng trọt, nhịn đói chết hết sao?

Nhiều xứ văn minh hiện nay, người ta thiêu xác. Bên Nhật, bên Tàu, Ấn Độ và nhiều xứ khác nữa, người chết được hỏa thiêu. Đạo Phật chính tông, thì các tăng ni đều được hỏa táng, nhưng những người theo đạo Phật nửa vời, thì lại chôn cất. Bày đặt ma chay linh đình cho thêm tốn kém.

Bạn ông Tư hỏi : - Có phải người theo đạo Chúa không dám hỏa táng? Nghe đâu họ tin có ngày phán xét cuối cùng, và được sống lại. Bởi vậy nên phải giữ thân thể, không muốn thiêu tan thành tro bụi.
Ông Tư cười lớn nói :
- Chờ đến ngày phán xét cuối cùng, thì sắt đá cũng đã mũn ra tro bụi, nói chi đến cái thân xác mong manh? Có lẽ những kẻ mê tín, kém hiểu biết, diễn dịch sai ý nghĩa của kinh Thánh chăng? Mà dù cho xương cốt có còn, thì cũng chỉ là bộ xương cũ mục, làm sao mà sống lại trên bộ xương đó được ? Bởi thế, nên tôi cho hỏa thiêu là sạch sẽ và tiện lợi nhất.

Câu chuyện bàn rộng đến phong trào Việt Kiều về quê xây lăng mộ cho thân nhân, cho tổ tiên, đến nỗi có nhiều làng thi đua xây cất cho nguy nga, cho to lớn. Thấy lăng mộ người khác lớn hơn, thì đập cái cũ ra, xây lại cho lớn, cho đồ sộ hơn. Có nơi người ta đặt tên là Làng Ma, vì toàn cả lăng mộ.

Ông Tư cho rằng, xây lại mồ mả cho tổ tiên để báo hiếu, cũng là một hành động tốt, không có chi sai trái. Nhưng thi đua nhau xây và xây cất có tính cách phô trương thì chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Liệu những phần mộ kia đứng vững được bao nhiêu năm, và còn được con cháu chăm sóc đến bao giờ ?

Rồi cũng có ngày trở thành hoang phế, chẳng ai đoái hoài đến, mà mục rữa với thời gian. May ra, những nơi thiêng liêng như đền quốc tổ Hùng Vương, lăng mộ các bậc anh hùng giữ nước, dựng nước, mới được con cháu tiếp tục tu sửa chăm nom. Thế mà cũng có còn tả tơi, tàn tạ, không ai chăm nom.
Huống chi mình, là thứ thường dân, vô danh tiểu tốt, chưa làm được gì. Chưa kể những kẻ là tội đồ của dân tộc, bày đặt xây lăng ướp xác. Bởi thế, ông Tư dặn vợ con đừng xây mộ, tạc bia cho ông làm chi.

Ông Tư mượn bài thơ của ông bạn về đánh máy và sắp xếp lại cho đẹp, in ra nhiều bản, phóng ra một bản lớn, để dành khi ông chết sẽ sử dụng.

Chỉ bốn tháng, sau khi được báo tin ung thư, ông Tư qua đời mà không đau đớn nhiều, không dùng hóa học trị liệu trước khi chết. Có người mách cho ông nhiều loại thuốc ngoại khoa, ông cũng dùng thử.

Trong giới bạn bè thân tình, có người nói là ông Tư đã tự chọn lấy con đường ra đi nhẹ nhàng, không để bệnh hoạn hành hạ trước khi chết. Ông Tư thường đùa rằng, còn nước thì còn tát, biết là dù có tát thì thuyền cũng chìm, thì quẳng gàu đi cho đỡ mệt trước khi thuyền chìm.

Bà con bạn bè đến viếng tang ông Tư tại nhà, khi bước vào cổng, họ cố sửa soạn lại bộ mặt cho có vẻ buồn rầu, nghiêm nghị, để hợp với cảnh tang ma, dù trong lòng họ không có chút bi ai nào. Nhưng họ nghe có tiếng nhạc vui đang rộn rã vẳng ra từ bên trong, hòa với tiếng nhạc là tiếng cười vui vang vang, tiếng ồn ào. Người nào cũng giật mình, vội vã xem kỹ lại số nhà, sợ đi lầm.

Vào nhà, mỗi khách viếng tang được phát một tờ giấy màu hồng, bên trên ghi bài thơ Khi Tôi Chết . Bài thơ cũng được chụp phóng lớn, dán trên tấm bảng che kín cả một bức tường. Khách và chủ đang vui vẻ chuyện trò, cười đùa.

Không thấy quan tài ông Tư đâu cả. Trên bệ thờ có cái ảnh ông Tư phóng lớn, miệng cười toe toét, tóc bù gió lộng. Trước tấm ảnh có cái hộp vuông chứa tro xương của ông Tư. Tiếng nhạc vui vang vang từ máy hát. Bài thơ in đậm nét:



Khi Tôi Chết
Nếu làm biếng, cứ nằm nhà thoải mái
Viếng thăm chi, vài phút có thêm gì ?
Mắt đã nhắm. Lạnh thân. Da bầm tái .
Dẫu bôi son, trát phấn cũng thâm chì.

Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó,
Ai thay da mãi mãi sống trăm đời .
Kẻ trước người sau, xếp hàng xuống mộ
Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi.

Nếu có khóc, khóc cho người còn lại,
Bởi từ nay thiếu vắng nỗi đầy vơi .
Cũng mất mát, dáng hình , lời thân ái
Tựa nương nhau, hụt hẫng giữa đất trời.

Đừng đăng báo, phân ưu lời cáo phó
Chuyện thường tình, phí giấy có ích chi ?
Gởi mua gạo, giúp người nghèo đói khó
Dịu đau buồn những kiếp sống hàn vi,

Trỗi nhạc vui cho người người ý thức,
Cuộc nhân sinh sống chết cũng tương đồng,
Khi nằm xuống, xuôi tay và nhắm mắt
Thì đau buồn hạnh phúc cũng hư không.

Đừng xây mộ, khắc bia ghi tên tuổi
Vài trăm năm hoang vắng, chẳng ai hoài .
Vũ trụ vô cùng, thời gian tiếp nối,
Tỉ tỉ người đã chết tự sơ khai.

Khi tôi chết đừng ma chay đình đám,
Hỏa thiêu tàn, tro xác gởi về quê
Dẫu bốn biển, cũng là nhà, bầu bạn
Trong tôi còn tha thiết chút tình mê.

Thì cũng C, H, Ô, N kết lại,
Nắm tro xương hài cốt khác nhau gì,
Nhưng đất mẹ chan hòa niềm thân ái,
Cho tôi về, dù cát bụi vô tri.



Khi đọc xong bài thơ, có người thì mĩm cười, có người vui hẳn, và nói chuyện oang oang. Họ cho rằng bài thơ đã nói hết ý nguyện của người chết. Người chết không muốn bạn bè buồn rầu, thương tiếc, thì việc chi mà lại làm bộ, gượng gạo tạo ra nét buồn khổ trên mặt.

Vợ con người chết cũng không tỏ vẽ buồn rầu, mà cũng không hớn hở. Không một tiếng khóc lóc, thở than. Nhạc vui vẫn dồn dập phát ra từ máy vang dội. Khi khách đã đến chật nhà, và đúng giờ cử hành tang lễ, bà vợ ông Tư và đứa con trai mang áo quần trắng đứng chắp tay bên bàn thờ, cô con gái đứng bên tấm ảnh ông, cầm máy vi âm nhoẻn miệng cười và nói :

-Thưa các cụ, cô bác chú dì, bà con bạn bè thân thiết xa gần, chúng tôi xin cám ơn quý vị đã có lòng đến viếng tang Ba chúng tôi. Tang lễ nầy làm theo ý nguyện của người quá cố. Không làm tang lễ theo tục lệ bình thường, vì sợ trái với ước vọng cuối cùng của Ba chúng tôi. Chúng tôi xin nhận lấy mọi lời trách móc nếu có từ bà con bạn bè.

Ba chúng tôi đã bình tĩnh và vui vẻ đón cái chết như một sự trở về không tránh được . Trong những ngày cuối của cuộc đời, Ba chúng tôi rất vui, chuẩn bị kỹ cho gia đình và cho chính ông. Ông đã dặn dò chúng tôi, không nên khóc lóc, không nên buồn rầu, vì sự thực không có chi đáng buồn cả. Ông dặn chúng tôi vặn cuốn băng sau đây cho bà con cô bác nghe.

( Ông Tư đọc bài thơ trên )

Giọng Huế của ông Tư đọc chậm và ngân dài những đoạn ông đắc ý : Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó . Ai thay da mãi mãi sống muôn đời, Kẻ trước người sau xếp hàng xuống mộ, biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi. Cuối cùng, có một tràng cười ha ha của ông Tư để chấm dứt bài thơ.

Sau bài thơ, có ba ông người Mỹ, hai ông da đen, một ông da trắng, cầm đàn và kèn trỗi lên mấy khúc nhạc vui, các ông nhún nhẫy uốn éo, nhiều lúc dậm chân xuống sàn. Ba ông cùng lúc lắc, làm hàng một, đi quanh phòng khách, như múa lượn trước bàn thờ ông Tư. Những ông nầy, là bạn chơi nhạc với ông Tư tại các quán ca nhạc ban đêm.

Một bạn thân của ông Tư, quen nhau từ thuở trung học, đại diện bà con, đến trước bàn thờ, vỗ vào hộp tro xương, cười ha hả và nói:
- Tư ơi, ông là số một rồi đó, chả có ai bằng ông. Ông hiểu tận tường lẽ huyền vi của tạo hóa. Sống cũng vui, mà chết cũng vui. Sống cũng dám làm, mà chết rồi cũng dám làm, và làm được. Tôi cũng ước mong rằng, sau khi chết, vợ con làm cho tôi một đám tang như thế nầy, thì vô cùng sung sướng. Tưởng ông nói đùa chơi, ai ngờ làm thật.

Một vị mục sư là bạn thân của gia đình, cũng đến trước bàn thờ, và đoán chắc rằng bây giờ ông Tư đã được về với Thiên Chúa. Ông cho rằng thái độ của ông Tư trước cái chết rất sáng suốt, đáng khâm phục, và đáng được mọi người noi theo.

Một vị sư già, có bà con họ hàng với ông Tư, đã từng viết nhiều sách Phật và rao giảng đạo từ bi, nói trước linh vị :
- Bần đạo không cần đọc kinh cầu siêu cho thí chủ. Bởi linh hồn thí chủ đã thực sự siêu thoát trước khi chết. Thí chủ không vướng bận cõi trần, không hệ lụy vào cái thân xác tạm bợ. Thanh thản ra đi như kẻ đi chơi, thong dong, dễ dàng. Thí chủ đã hiểu thấu đáo cái lẽ vô thường trong đạo pháp.

Mọi người ra về, lòng nhẹ nhàng, tưởng như đi trong mơ. Từ phía nhà ông Tư, còn vang vọng nhạc vui đưa tiễn khách.

Khi tôi chết, viếng tang đừng buồn bã
Cười cho to, kể chuyện tếu vui đùa ,
Trong sáu tấm biết chắc tôi hả dạ,
Lên tinh thần, ấm áp buổi tiễn đưa.

Cuộc đời này chỉ là 1 giấc mơ. Có nhiều người đang sống, nhưng vẫn còn mơ...

Đến khi bịnh hoạn lên giường nằm rồi, mới nhìn lại được quãng đời mình.
Như 1 cuốn phim, quay chậm...

Cuộc vui nào rồi cũng tàn, họp mặt nào rồi cũng chia xa, hạnh phúc nào rồi cũng ly tan.
Và con người nào rồi cũng trở thành cát bụi. Đây là luật Vô Thường - không ai thoát được.
Có quan niệm được điều này (không qua nói miệng) trong mỗi ngày, trong hành động, và từng hơi thở..

Thì sẽ tìm được hạnh phúc không xa...
----------------------------
Shared from BM's Blog



Càng già càng dẻo càng dai...

… Càng dai? Nghi lắm! Chẳng qua là để an ủi cõi lòng thôi. Càng già càng xơ cứng, càng mỏi gối chồn chân … thì có. Thế nhưng “gừng càng già càng cay” thì đúng. Cay lắm! Và đó là lý do tại sao những người có tuổi ham tập thể dục, dưỡng sinh, khí công, tài chí, thiền, yoga… trong lúc các bạn trẻ còn đang mãi mê ngồi quán café phì phà thuốc lá, hoặc dô dô 100% ở các quán nhậu đợi cho tới khi thấp khớp, sưng chân, bụng phệ, tiểu đường… rồi tập cũng chưa muộn! Một anh bạn ở Mỹ về chơi nói bên đó bây giờ người sồn sồn như mình đa số mắc bệnh “3 cao 1 thấp”!
 

23 bức ảnh hiếm về Việt Nam cách đây hơn 100 năm
Người cập nhật :  

Những bức ảnh hiếm còn sót lại của Việt Nam xưa những năm 1850-1950 dưới đây sẽ giúp chúng ta hình dung được khung cảnh Việt Nam trong quá khứ. Mời các bạn cùng xem.

Gánh phở rong trên phố Hà Nội năm 1890. (Ảnh: Internet)
Võng quan đi công chuyện 1890. (Ảnh: Internet)
Một ngôi làng ở ngoại ô Hà Nội 1890. (Ảnh: Internet)
Một đám cưới ở Saigon năm 1866. (Ảnh: Internet)
Lợn ỉn – lợn Móng Cái 1860. (Ảnh: Internet)
Khai trương chạy thử tuyến tàu Hỏa đầu tiên ở Đông Dương, tuyến Sài Gòn- Mỹ Tho năm 1881. (Ảnh: Internet)
Quang cảnh Hồ Gươm + cầu Thê Húc – Hà Nội năm 1896 – ảnh đẹp và có chất lượng tốt đến ngạc nhiên. (Ảnh: Internet)
 
Công trường xây dựng phố Charner (1866), bây giờ là đường Nguyễn Huệ. (Ảnh: Internet)
Những nhạc công ở Saigon năm 1866. (Ảnh: Internet)
Cờ xí rợp trời quan sứ đến – Khoa thi ở Nam Định năm 1900. (Ảnh: Internet)
Quang cảnh các quan coi thi ở Huế năm 1900. (Ảnh: Internet)
Phố cặp bờ sông ở Chợ Lớn năm 1900 – kênh Tàu Hủ bên phải. (Ảnh: Internet)
Các sĩ tử đi vào trường thi Nam Định (năm 1897). (Ảnh: Internet)
Rước vua Duy Tân trong lễ đăng quang năm 1907 (vua mới 7 tuổi). (Ảnh: Internet)

Tội ăn cắp bị xử đánh đòn, ảnh chụp trong khoảng 1870 đến 1890. (Ảnh: Internet)
Các quan Tân Khoa được ban mũ áo để vinh quy bái tổ ở trường thi Nam Định khoảng 1890. (Ảnh: Internet)
Các quan lạy mừng vua Hàm Nghi. (Ảnh: Internet)
Chợ Lớn Saigon năm 1866, lúc này còn hoang sơ như một vùng quê. (Ảnh: Internet) 

Saigon, Chợ Lớn năm 1888, lúc này thuyền buôn của người Hoa đã tấp nập. (Ảnh: Internet)
Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn năm 1879, lúc này chưa có 2 tháp chuông phía trên (theo mô-típ của nhà thờ Đức Bà ở Paris). (Ảnh: Internet)
Đến năm 1990, hai tháp chuông được xây lên. Kiến trúc này được giữ cho đến ngày nay. (Ảnh: Internet)
Bắc kỳ, một thầy đồ đang dạy học – cuối thế kỷ 19. (Ảnh: Internet)
Một tài liệu cổ thời Pháp nghiên cứu vấn đề Giao Chỉ, hình vẽ xương bàn chân của một bé trai 12 tuổi. Bàn chân Giao Chỉ là đặc điểm người Việt bản địa. Số lượng người mang đặc điểm bàn chân này ngay từ xưa chỉ là số ít, không phải người An Nam nào cũng có bàn chân Giao Chỉ, cho đến nay thì còn rất hiếm…. “Giao Chỉ là người Nam di, ngón chân cái toạc ra, đứng thẳng hai bàn chân thì ngón chân cái giao vào nhau, cho nên gọi là Giao Chỉ (chỉ là ngón chân cái)”. (Ảnh: Internet)
Theo Tinh hoa

 Source: http://www.trithucmo.net/index.php/lich-su/hinh-anh-lich-su/item/391-23-buc-anh-hiem-ve-viet-nam-cach-day-hon-100-nam

WORLD WORLD