Tuesday, November 28, 2023

“THÁO GIẦY”

Tôi nhớ lại một câu truyện rất lý thú về sự tích đôi giày. Truyện kể rằng ngày xưa có một ông vua, sống rất xa xỉ. Mỗi khi đến đâu, ông bắt dân chúng nơi ấy phải trải thảm nhung trên tất cả những con đường ông đi qua. Càng được đón tiếp long trọng, ông càng thích đi; và ông càng đi, người ta càng phải trải nhiều thảm nhung cho ông bước lên. Cho đến một ngày, người ta không kịp sản xuất nhung để lót đường cho ông vua. Điều này làm ông tức giận và ra lệnh rằng ông đến đâu mà không có thảm nhung lót đường, cả dân vùng ấy sẽ bị giết chết hết. Thế nhưng đã có một người đến xin yết kiến vua, ông ta cam đoan rằng nếu vua theo ý ông, vua đi đâu thảm nhung cũng có sẵn mà không phải huy động một ai cả. Vua bằng lòng, và ông nọ dùng hai mảnh nhung nho nhỏ, khâu thành một đôi giày nhung rồi mời vua xỏ chân vào. Thế là từ đó, vua đi đâu ''thảm nhung'' đi theo đến đấy. Kỹ nghệ làm giày từ đó dần dần thành hình và phát triển.

 VĂN HÓA ỨNG XỬ NHÀ GIÁO - ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ

Câu truyện này khiến tôi suy nghĩ và cảm thấy có liên hệ tới tính chất của những đôi giày. Đôi giày tượng trưng cho sự giàu có, hay ít ra cũng là đủ ăn đủ mặc, đôi giày làm cho người ta trở nên chững chạc, lịch sự. Đi đến nơi nào có vẻ quan trọng một chút, người ta xỏ chân vào đôi giày, tự nhiên trông có vẻ tươm tất ngay. Bà phu nhân của cố tổng thống Phi Luật Tân Marcos có tới vài trăm đôi giầy đắt giá. Tôi không biết có ai trong chúng ta có tới vài trăm đôi giày như vậy không, nhưng chừng vài chục đôi thì tôi cũng đã biết có người. Có những người ham thích mua giày, dư tiền một chút, họ đi sắm giày. Những đôi kiểu mới, họ mang vào chân, ngắm nghía rồi mua đem về, dù rằng những đôi cũ còn rất tốt, lại có những đôi họ chưa xỏ chân vào lần thứ hai. Chính vì có nhiều người ham thích mua giày, đóng giày mà kỹ nghệ sản xuất giày phát triển rất mạnh, với nhiều hãng giày nổi tiếng. Có những đôi giày trị giá mấy trăm Mỹ kim, trong khi một đôi dép dùng hằng ngày trong nhà có thể chỉ phải mua với giá hai, ba đồng.

Đôi giày làm nên ranh giới của người no đủ và người nghèo đói. Đôi giày cũng ... làm nên ranh giới của người tự do và người nô lệ. Ngày xưa, trong một số xã hội nào đó chỉ những người tự do mới được quyền đi giày, còn người nô lệ phải đi chân đất. Dụ ngôn ''đứa con hoang đàng'' trong Phúc Âm cũng có hình ảnh của đôi giày. Khi đứa con hoang trở về, nghèo đói, rách rưới qùy xuống chân cha nói lời tạ tội và chỉ mong cha cho trở về, nhận làm kẻ hầu người hạ trong nhà chứ không dám mơ được nhận làm con như trước; người cha nhân lành đã đỡ con dậy, gọi gia nhân đem áo cho mặc, nhẫn cho đeo, giày cho đi. Đôi giày ấy thay cho lời người cha, nói với người con rằng: ''Con là con cha, là người tự do, con không phải là kẻ ăn người ở, không phải là hạng nô lệ trong nhà này.''

Nhưng đôi giày cũng là vật tượng trưng chơ sự gò bó. Đôi giày trở nên nỗi cực hình đối với những ai thích cho đôi chân mình được thoải mái. Tôi vốn thích đi dép hoặc xăng đan ''cho nó mát". Ngày đầu tiên đi dạy học, tôi cũng định lê đôi dép vào trong lớp, nhưng mẹ tôi đã đe: ''Nếu con không chịu mua giày và không chịu đi giày, mẹ không cho con tới trường dạy học.'' Tôi hoảng quá, đành phải đi sắm giày mà trong lòng lấy làm đau khổ vô cùng. Bây giờ, tôi vẫn có thói quen đi dép hay đi xăng đan. Và đang khi có đôi chân thoải mái như thế, tôi nhìn những người bạn phải đi giày suốt từ sáng đến tối mà thương cho họ. Nhất là những cô phải xỏ chân vào đôi giày cao gót và để đôi giày ấy đeo cứng chân mình, dù đi, dù đứng, dù ngồi; chắc là bí bức, gò bó lắm. Nhưng nói vậy thôi, có nhiều người sẵn sàng chịu sự gò bó để cảm thấy mình đẹp và được khen là đẹp. Tuy nhiên, tôi cũng thấy có nhiều người, nhất là những người trẻ, bước đi trên đường phố bằng những đôi chân trần không giày dép. Những người trẻ này có lẽ không thích sự gò bó, dù là sự gò bó của đôi giày hay sự gò bó của những luật lệ, định chế xã hội.

Có một khoa nhìn giày để đoán ra tính nết người đi đôi giày đó. Người ta nhìn đôi giày mòn ở mũi hay ở đế, mòn phía trong nhiều hay mòn phía ngoài nhiều, rồi từ đó đoán ra người đi đôi giày ấy tính hướng nội hay hướng ngoại, bình tĩnh hay hấp tấp, cương quyết hay e dè v,v... Tôi không biết những điều ước đoán ấy đúng, sai ra sao, nhưng từ lâu tôi vốn thích ngắm những đôi giày mòn vẹt hơn là nhìn những đôi giày bóng loáng chưa đụng đất trong tiệm bán giày. Giày đẹp mấy mà chưa dùng đến thì cũng chưa đem lại chút lợi ích gì cho con người. Giày càng mòn, càng vẹt bao nhiêu, càng chứng tỏ nó đã giúp cho con người di chuyển nhiều bấy nhiêu. Đẹp mà không giúp ích cho đời, cũng không quí bằng dù tàn tạ nhưng đã đem lại ích lợi cho đời sống con người.

 Chính vì thế đã có người rất quý trọng đôi giày mòn, vẹt của mình. Người ta kể rằng một tu viện nọ tổ chức một cuộc tĩnh tâm. Cuối ngày, cha tu viện trưởng nói với mọi người để lên bàn vật mình cho là quý nhất. Các tu sĩ lần lượt để lên bàn những báu vật của mình. Người thì đặt lên một cây thánh giá bằng vàng, người khác là một cuốn thánh kinh đóng bìa da công phu, người khác nữa là một tràng hạt bằng bạc... Đến lần vị tu sĩ kia, ông thản nhiên cúi xuống tháo đôi giày cũ kỹ, mòn vẹt của ông và trịnh trọng đặt lên bàn. Mọi người ồn ào, bất mãn, người ta cho rằng vị tu sĩ kia ngạo mạn và bất kính đối với người khác và đối với những báu vật của họ. Tu viện trưởng ra lệnh cho vị tu sĩ kia giải thích tại sao lại cho đôi giày cũ kỹ bụi bặm kia là vật quí nhất, vị tu sĩ trả lời: ''Vì chính nhờ nó, con đã đem được Tin Mừng của Chúa Ki tô đến biết bao con người ở những miền đất xa xôi”. Câu truyện này khiến tôi liên tưởng đến lời của tiên tri Isaia: ''Đẹp thay bước chân người đi gieo rắc Tin Mừng.'' (Is 52, 7)

 Thầy giáo trẻ xung phong lên biên giới dạy học

 Ai từng đi giày cũng có một đôi giày mình ưng ý nhất, đôi giày ấy đi vào vừa vặn, bước đi thật êm, nó không cọ xát khiến đôi chân đau bỏng, nó không bó đôi chân lại khiến chân bị tê buốt, nó cũng không lỏng lẻo khiến cho đôi chân muốn tuột ra ngoài. Khi có một đôi giày ưng ý rồi, ta không thích đi đôi giày khác, nhất là không thích dùng giày của người khác. Đôi giày khi đó trở thành vật biểu tượng cho sở thích, cho bản tính của mình. Có lẽ chính vì thế mà lâu nay người ta có thành ngữ ''đi giày nhiều người''. Thành ngữ này có nghĩa là khi làm việc, ta phải chiều theo tính nết của quá nhiều người thì việc mới thành tựu được. Phải ''đi giày nhiều người'' là một tình trạng rất khổ tâm của những người muốn hoạt động hữu hiệu cho một mục tiêu cao đẹp, mà cứ phải chiều ý hết người này tới người khác. Mặt khác, ''đi giày nhiều người '' cũng là câu chê bai dành cho những ai không dám tự quyết không dám can đảm dấn thân, bất chấp những nhân sự ''cản mũi kỳ đà'', mà cứ luôn luôn phải làm theo ý người này, người nọ.

 Mách bạn cách F5 giày cũ đơn giản mà cực đẹp

Dịp lễ Phục Sinh vừa qua, tôi được dịp ''tháo giày'' một cách hết sức thoải mái. Chuyện ''tháo giày'' của tôi không liên quan gì đến việc các viên chức đóng vai mười hai tông đồ, tháo giày ra cho vị linh mục chủ tế, bắt chước Chúa Giêsu, rửa chân cho mình. Chuyện ''tháo giày” của tôi hoàn toàn khác. Tôi được gọi đến dự một cuộc tĩnh tâm của giới trẻ. Sau những nghi thức và những bài giảng, đêm đã về khuya. Đây là thời điểm thuận tiện nhất để những người trẻ ngồi lại với nhau, tâm sự về những thao thức, những ước vọng, những suy tư của mình. Để tạo bầu không khí thân mật, vị linh mục phụ trách kêu gọi mọi người ngồi xuống đất bên nhau thành vòng tròn, thay vì ngồi trên ghế. Muốn ai cũng có thể ngồi thoải mái, vị linh mục xin mọi người tháo giày ra trước khi ngồi. Khi được lệnh ''tháo giày'', tôi là người sung sướng nhất. Lúc nào tôi cũng mong đợi chân mình được tự do! Vừa tháo giày, tôi vừa quan sát những người trẻ chung quanh. Một số tháo giày ra ngay; một số khác còn ngần ngừ, như còn e dè, nuối tiếc gì đó. Nhưng rồi cuối cùng, ai cũng tháo giày ra hết. Với đôi chân thoải mái, mọi người ngồi xuống đất, vòng tròn thu hẹp dần, thu hẹp dần, cho đến khi vai người này có thể chạm được vai người khác, đầu người nọ có thể chụm vào đầu người kia. Và họ bắt đầu chia sẻ với nhau về những ưu tư, khát vọng, mơ ước, hạnh phúc, đau khổ của mình. Đúng lúc ấy tôi nghĩ tới đôi giầy mọi người vừa tháo khỏi chân. Đôi giày, nhìn dưới một khía cạnh nào đó, chính là bản chất riêng của mỗi người. Để có thể ngồi sát bên nhau, vai chạm vai, đầu chụm đầu, nghe được nơi nhau những lời chia sẻ thân tình, chúng tôi phải tháo đôi giày, phải cởi bỏ bản chất riêng của mình trước đã, rồi mới có thể hòa đồng trong một bầu khí chung, một tâm tình chung. Những giọt lệ nơi khóe mắt tôi ứa ra một cách kín đáo.

 Tôi ước mong trong cuộc sống, tôi và các bạn tôi biết nhận thức rằng: rất nhiều lúc, chúng tôi phải tập ''tháo giày" tập cởi bỏ bản chất riêng để cùng nhau theo đuổi một mục đích chung. Cùng nhau đi chân trần trên đường hướng về lý tưởng, có lẽ thích thú hơn lộp cộp với đôi giày để bước những bước độc hành.

Tác giả Quyên Di

Nhà Văn, Giáo Sư Ngôn Ngữ

và Văn Hóa Việt Nam đại học UCLA

 

 

BÀI GIẢNG LỄ AN TÁNG CHO MỘT NGƯỜI TỰ TỬ

 

 Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (3,16-17)

Khi ấy, Đức Giêsu nói với ông Nicôđêmô rằng: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ."

 Bài giảng

Quý ông bà và anh chị em thân mến,

Anh T. vừa đột ngột rời xa chúng ta khi vẫn còn rất trẻ. Trước sự ra đi của anh, chúng ta cảm thấy thương anh và đau xót. Và có lẽ có người trong chúng ta cũng âm thầm hỏi anh: Sao anh lại dại dột như vậy? Sao anh lại có quyết định nông nổi như vậy? Mọi chuyện đều có thể giải quyết, sao anh lại phải chọn con đường cụt này?... Nhưng khi hỏi anh như vậy, có lẽ chúng ta cũng tự hỏi, phải chăng mình đã chưa quan tâm đủ để nhìn thấy những thay đổi nơi anh, hay mình chưa đủ yêu thương để nhận ra những dấu hiệu bất ổn của anh, hay phải chăng mình quá coi nhẹ những khó khăn của anh và để anh một mình tìm cách giải quyết?...

Những câu hỏi này khiến chúng ta cảm thấy đau và nặng nề. Nhưng dù chúng ta có hỏi mình bao nhiêu lần, dù có suy đi nghĩ lại, chúng ta cũng không tìm thấy câu trả lời thỏa đáng. Bởi sẽ không có câu trả lời thỏa đáng nào cả. Chúng ta đang phải trải nghiệm sự nặng nề và buồn bã của biến cố này mà không tìm được câu trả lời cho những câu hỏi của mình.

Anh T. đã chọn cái chết, và chúng ta phải tôn trọng lựa chọn này của anh, dù cho sự lựa chọn đó không phù hợp với quan điểm hay quan niệm sống của chúng ta. Cái chết của anh đẩy chúng ta đối diện với mầu nhiệm về con người, với những điều kín nhiệm mà không ai trong chúng ta có thể thấu hiểu hay chạm đến được. Vì thế, chúng ta không cố gắng để giải thích những điều chúng ta không thể hiểu, cũng không nhất thiết phải lý giải hành động của anh. Điều duy nhất chúng ta có thể làm và phải làm là cầu nguyện và phó thác anh cho lòng thương xót của Thiên Chúa.

Chúng ta không nên xét đoán và cũng không có quyền phán xét quyết định của anh T., vì chúng ta không biết những buồn sầu và sợ hãi, những đau khổ và tuyệt vọng của anh. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể phán xét con người một cách công bằng, vì chỉ có Chúa mới biết rõ từng người. Chỉ có Chúa mới thấu tỏ được tâm lòng của mỗi người (Gr 17,10). Và chỉ có Chúa mới yêu chúng ta đủ và nhiều để phán xét chúng ta.

Vì vậy thay vì đoán già đoán non, thay vì đưa ra một kết luận da trên sự hiểu biết vốn rất hạn hẹp của mình, chúng ta hãy để Chúa phán xét anh. Và chúng ta có quyền tin tưởng và hy vọng vào sự phán xét của Chúa, vì Chúa xét xử chúng ta theo lòng thương xót của Người. Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe cho chúng ta niềm tin này: Thiên Chúa Cha đã sai Con của Người đến với chúng ta không phải để loan báo cái chết nhưng để loan báo sự tha thứ và sự sống. Điều tưởng chừng như bị mất đi, Chúa lại cứu vớt nó. Nơi nào có bóng tối, Chúa đem ánh sáng đến. Nơi nào có sự chết, Chúa đến gieo sự sống. Chúa Giêsu nói: “Thiên Chúa sai con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.

Chúng ta có dám tin rằng ơn cứu độ dành cho anh Tâm vẫn nằm trong kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa không? Chúng ta có dám tin rằng, hôm nay, chính lúc này, Chúa Giêsu cũng đang nhìn anh với tình yêu và lòng thương xót như Người đã từng nhìn tất cả những người bất hạnh, những người đau khổ, những người tuyệt vọng khi Người đi loan báo Tin Mừng cứu độ ở trần gian không? Chỉ có Thiên Chúa mới thấy tất cả những gì là tốt, là rộng lượng từ tấm lòng của anh, những gì là giá trị trong cuộc đời của anh.

Nếu dám tin, chúng ta sẽ không còn nghi ngờ tình yêu của Chúa dành cho tất cả những người đã đau khổ đến mức không thể sống được nữa. Đối với tất cả những người chết, Chúa là Thiên Chúa của sự sống.

Dĩ nhiên, tin vào tình yêu và lòng thương xót của Chúa không phải để chúng ta cố chấp sống trong tình trạng tội lỗi hoặc coi nhẹ sự hoán cải. Tình yêu đích thực không bao giờ là cớ để chúng ta phạm tội. Nhưng tin vào tình yêu của Chúa là dám để cho Chúa chạm vào nỗi thống khổ của chúng ta, dám để Chúa kéo chúng ta chỗi dậy từ những yếu đuối, đứng lên từ đống đổ nát của tâm hồn mình và tiếp tục bước theo Người.

Anh T. đã rời xa chúng ta nơi trần gian. Nhưng chính cái chết, và cả cách chết của anh, lại trở thành sợi dây nối kết chúng ta, những người đang sống. Bởi qua cái chết của mình, có lẽ anh T. muốn mời gọi chúng ta hãy biết sống yêu thương nhau hơn, lắng nghe nhau nhiều hơn, dành thời gian cho nhau và nâng đỡ nhau, nhất là trong những lúc khó khăn, đau khổ. Thông điệp mà anh muốn gởi đến chúng ta có lẽ là khát vọng về một thế giới của sự sống và tình thương, nơi mà không một ai bị chối từ, nơi mà mọi người đều tìm thấy cho mình một sự ấm áp của tình người, và nơi mà niềm hy vọng không bao giờ bị đánh mất.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa tiếp đón người con, người anh em, người bạn của chúng ta vào trong Nước Hằng Sống, với lòng Thương Xót vô biên của Người. Và cũng xin Chúa cho chúng ta giữ mãi được niềm tin, niềm hy vọng vào tình yêu của Chúa để chúng ta tiếp tục cầu nguyện cho nhau và sống yêu thương nhau. Amen.

Tác giả:  Lm. Giuse Vũ Thái Hòa

Wednesday, September 20, 2023

Thánh Giuse và giấc ngủ của Chúa

Năm ngoái, chúng ta đã suy gẫm đề tài về thánh Giuse bổn mạng những người ngủ, và đã có nhiều người áp dụng có hiệu quả. Năm nay, chúng ta sẽ tiếp tục đề tài, nhưng dưới một góc độ khác: “Thánh Giuse và giấc ngủ của Chúa”.

Đề tài này có thể hiểu theo nhiều nghĩa. 1/ Nghĩa đen là thánh Giuse đã nhiều lần thức đêm bên cạnh hài nhi Giêsu, để cho bà mẹ đi ngủ. Một bức họa mới được trưng bày gần đây tại Roma đã được gợi hứng từ đó, để nêu bật vai trò của người cha trong việc chăm sóc con thơ: ông cũng phải phụ giúp vợ đã quá mệt mỏi ban ngày với bao nhiêu công việc nội trợ.

2/ Chúng ta có thể xoay chủ để sang một hướng khác, đó là thánh Giuse đã bị Thiên Chúa ngủ quên. Tại sao nói như vậy? Thưa rằng dựa trên lịch sử phụng vụ. Trong khi các thánh tông đồ, tử đạo cũng như Đức Maria đã được kính nhớ trong lịch phụng vụ từ những thế kỷ đầu tiên, thì thánh Giuse mới được kính nhớ tại vài địa phương vào thế kỷ XIII và được ghi vào ghi lịch phổ quát từ thế kỷ XVII. Có nghĩa là thánh Giuse đã bị bỏ quên, hay nói ngược lại cũng được, thánh Giuse đã bị Thiên Chúa ngủ quên trong thời gian trên dưới 15 thế kỷ.

3/ Còn một đường lối khác nữa để nói về thánh Giuse trong giấc ngủ của Thiên Chúa, đó là Thiên Chúa chẳng nói gì với thánh Giuse, và họa chăng chỉ nói lúc ông ấy ngủ.

Sau những lời giáo đầu để cho anh em khỏi ngủ, bây giờ tôi xin vào bài suy gẫm dựa trên đoạn Tin mừng vừa nghe, mà tôi thấy rất hợp với hoàn cảnh chúng ta đang sống. Chúng ta đã nói nhiều về tấm gương thinh lặng của thánh Giuse. Trong các sách Tin mừng, đức Maria có lên tiếng 7 lần, nhưng thánh Giuse không hề lên tiếng. Nhưng có lẽ ít ai nghĩ đến thánh Giuse đã khổ sở thế nào trước sự thinh lặng của Thiên Chúa. Ông bị đặt trước những ngõ cụt mà chẳng biết cách phải cư xử thế nào. Mãi về sau, ông mới được giải thích.

Bài Tin mừng ngày hôm nay mở đầu bằng một xì-căng-đan. Bà Maria vợ ông bỗng dưng mang thai. Ông biết cái thai đó không phải do sự tham gia của ông, thế thì nguồn gốc từ đâu? Chẳng lẽ bà vợ ngoại tình? Hoặc có thể bà bị hãm hại??? Bà Maria không lên tiếng,  bởi vì có phân trần thì ông cũng chẳng tin.

Đến đây, người ta mới thấy tài của thánh sử Matthêu. Theo cha Raymond Brown, trong lịch sử Giáo hội, đã có rất nhiều bài chủ giái cảnh truyền tin cho Đức Mẹ theo thánh Luca, nhưng ít người dừng lại suy niệm cảnh truyền tin cho thánh Giuse theo thánh Matthêu. Thánh sử tặng cho ông một tính từ gói ghém sự cao cả của ông, đó là “công chính”.

Ông Giuse là người công chính. Công chính có nghĩa là gì? Trong tiếng Latinh cũng như các ngôn ngữ châu Âu, iustus bao hàm nhiều ý nghĩa: công bình, công minh, chính trực, ngay thẳng, công chính.

Áp dụng vào trường hợp đang bàn, nhiều người chỉ giới hạn vào tương quan giữa ông Giuse và bà Maria: ông muốn cư xử công bằng với bà. Ông không muốn tố giác bà phạm tội ngoại tình vì sẽ bị ném đá. Ông đâu biết nguyên nhân của cái thai trong bụng bà: bà ngoại tình hay là bị hãm hại? Thật là khó xử. Vì thế ông chọn con đường khác, là hy sinh, chia tay bà cách âm thầm kín đáo.

Có thể giải thích như vậy cũng được, nhưng có lẽ chưa lột được ý của Matthêu. Ông đang nói đến sự công chính trước mặt Chúa, chứ không phải là công bình trong tương quan với tha nhân. Người công chính là người tuân giữ luật Chúa. Và tất cả chương trình của Matthêu nhằm cho thấy rằng Đức Giêsu đến để kiện toàn luật chứ không phải để phá luật. Chúng ta mới nghe trong bài Tìn mừng hôm qua. Trong bối cảnh này, không có gì đáng khen ngợi hơn khi Matthêu cho thấy ông Giuse là người đã chu toàn lề luật. Chúng ta đừng hiểu sai vấn đề. Mấy người Kinh sư và Pharisêu bị Chúa Giêsu quở trách vì đầu óc vụ luật, nghĩa là hiểu sai luật. Và Chúa đến để vạch cho thấy đâu là ý nghĩa chân chính của luật.

Đi vào cụ thể, vì lý do gì ông Giuse được ca ngợi là công chính? Thưa bởi vì ông đang kiện toàn kế hoạch của Chúa. Hay nói đúng, Chúa cần ông để hoàn tất kế hoạch của Ngài. Bằng cách nào? Chúng ta hãy phân tích lời của sứ thần.

“Này Giuse con vua Đavit”. Những lời này đối với Matthêu rất là quan trọng. Hơn các tác giả Tin mừng khác, thánh Matthêu nhiều lần gọi đức Giêsu là “con vua Đavit” (9,27; 12,23; 15,22; 20,30.31; 21,9.15; 22,41-45). Đức Giêsu xuất hiện như là để hoàn tất lời hứa của Thiên Chúa với nhà Đavit, mà chúng ta đã nghe trong bài đọc I. Bằng cách nào Đức Giêsu trở thành con vua Đavit? Thưa nhờ ông Giuse. Ông là con vua Đavit, và là chồng bà Maria trước mặt pháp luật. Ông sẽ đặt tên cho con trẻ. Ông nhận đứa trẻ làm con ông. Đó, Thiên Chúa đang cần đến ông: “Ông làm ơn nhận bà Maria về làm vợ đi”.

Một thắc mắc được nêu lên: bà Maria mang thai cách nào vậy? Thiên thần giải thích: “bà cưu mang do quyền năng Chúa Thánh Thần”. Tôi xin cam đoan là lúc ấy ông Giuse chưa có khái niệm gì về Mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa đâu. Có lẽ Thánh Thần ở đây gợi lên ý tưởng thần khí Chúa lúc sáng tạo vũ trụ. Thần khí ấy sẽ khởi đầu một cuộc sáng tạo mới.

Thiên thần nói tiếp với ông Giuse: “Ông sẽ đặt tên cho trẻ là Giêsu, vì chính người sẽ cứu dân người khỏi tội lỗi”. Vai trò của ông Giuse thật là cao quý. Ông có vai trò giống như ông Giuse trong Cựu ước. Trước kia, ông Giuse (con út của tổ phụ Giacop) đã đưa dân Israel sang Ai cập để tránh nạn đói, rồi từ đó Môsê sẽ giải cứu dân Chúa khỏi cảnh nô lệ. Bây giờ ông Giuse mới sẽ đức Giêsu qua Ai cập để tránh vua Herot, rồi từ Ai cập, lại dẫn Đức Giêsu, nghĩa là “Gia-vê cứu chữa”, ra khỏi cảnh nô lệ. Lần này không phải là cảnh nô lệ chính trị mà là cảnh nô lệ tội lỗi.

Dù sao, đối với Matthêu và các Kitô hữu, đức Giêsu không chỉ là con vua Đavit và là Đấng cứu tinh của Irael, Đức Giêsu còn là Con Thiên Chúa. Đúng rồi, Đức Giêsu là Emmanuel, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Ông Giuse hãy lấy bà Maria làm vợ, để hoàn tất lời tiên tri của Isaia. Bà sẽ sinh ra Emmanuel, Emmanuel không chỉ là Chúa của người Do thái, nhưng là của toàn nhân loại. Matthêu kết thúc sách Tin mừng bằng lời hứa của Đấng Kitô Phục sinh: “Các con hãy đi khắp muôn dân… Thầy ở cùng chúng con mỗi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28.19-20)


Như vậy, chúng ta cần đọc  tất cả 2 chương đầu thì mới hiểu rõ vai trò của Giuse trong kế hoạch của Thiên Chúa. Thiên Chúa có một kế hoạch cứu độ, và mời ông Giuse góp phần.

Matthêu kết luận: “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần đã dạy”. Người công chính là thế đó, tuân hành kế hoạch của Thiên Chúa. Ông làm như lời Chúa dạy, giống như dân Israel trước đây đã đáp lại lời Môsê khi ông này công bố giao ước trên núi Sinai.

Ông Giuse là người công chính. Ông chưa biết được những gì Chúa sẽ dành cho mình. Matthêu chỉ kể ra vài đoạn chung quanh việc Chúa sinh ra, cho đến khi định cư ở Nararet. Bao nhiêu nhà tu đức đã ca ngợi diễm phúc của thánh Giuse được sống ở bên cạnh Chúa Giêsu suốt 30 năm. Tôi không nghĩ như vậy. Đó là 30 năm của Chúa ngủ. Làm thế nào chấp nhận được Thiên Chúa phải chịu những giới hạn của con người, phải học ăn học nói, học gói học làm? Làm sao chấp nhận Thiên Chúa không can thiệp gì cho dân chúng đang khổ sở dưới ách đô hộ của ngoại bang?

Chúng ta đang ở một thời điểm khó khăn do nạn dịch: “Chúa ở đâu? Sao Chúa ngủ mãi? Lạy Chúa xin thức dậy đi”. Đó không phải là lời xấc láo của tôi, nhưng là của vịnh gia: “Lạy Chúa, xin tỉnh giấc, Ngài cứ ngủ mãi sao? Xin trỗi dậy đi nào, đừng đuổi xua mãi mãi? (Tv 43, 24-25, Kinh sách thứ 5 tuần II và IV). Và các môn đệ cũng thưa với Chúa đang ngủ ở đầu thuyền: “Thầy ơi chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?” (Mc 4,38)

Chúng ta xin thánh Giuse giúp chúng ta biết đối phó với lúc Chúa ngủ, không chỉ vào những lúc rối ren như hiện nay, nhưng mỗi ngày, khi chúng ta cầm Minh Thánh Chúa trên tay. Tấm bánh này chính là Emmanuel, Thiên Chúa ở với chúng ta, giống như ngày nào thánh Giuse đã chung sống ở Nazareth.

---------------------

Giuse Phan Tấn Thành


 

Wednesday, September 13, 2023

Đức Giê-su Ki-tô – Đường khôn ngoan

 

ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ – ĐƯỜNG KHÔN NGOAN

Gm. Phêrô Nguyễn Văn Viên

WHĐ (02.8.2022) – Trong tiếng Do-thái, חָכְמָה (hokmah/ wisdom) có nghĩa là khôn ngoan. Từ tương đương với חָכְמָה của tiếng Do-thái trong tiếng Hy-lạp là σοφία (sophía/ sapientia/ wisdom). Đối với dân Do-thái, ba nhóm người sau đây được xem là khôn ngoan đặc biệt: (1) các tư tế, (2) các hiền nhân và (3) các ngôn sứ. Theo nghĩa khái quát, khôn ngoan được hiểu như là phẩm chất kiến thức, kinh nghiệm hay khả năng phán đoán, phân định, quyết định liên quan đến mọi công việc của con người trong đời sống hằng ngày. Khôn ngoan của một người được diễn tả qua sự hiểu biết chính mình, người khác hay sự vật, hiện tượng, biến cố hầu có thể thiết lập các tương quan cách phù hợp nhất. Hơn nữa, khôn ngoan không chỉ thuộc về cá nhân mà còn thuộc về các hình thức tập thể, chẳng hạn như sự khôn ngoan của dân Do-thái hay của người Ai-cập, Hy-lạp, Rô-ma. Đặc biệt, những tư tưởng, lời nói, hành động khôn ngoan của cá nhân được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở nên gia sản chung của mọi người.

Đối với Ki-tô Giáo, theo thánh Tô-ma A-qui-nô, khôn ngoan được diễn tả nơi khả năng của lý trí cũng như nơi sự kết hợp giữa lý trí và đức tin. Chẳng hạn, theo ngài, lý trí lành mạnh giúp con người nhận biết Thiên Chúa là nguyên lý và cùng đích của vạn vật. Với lý trí và đức tin, con người có thể cảm nhận tình yêu của Thiên Chúa đối với bản thân cũng như muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo. Tình yêu đó được diễn tả trong công trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa của Thiên Chúa. Thánh Tô-ma cho rằng sự hoàn thiện cao cả nhất của lý trí con người là chiêm ngưỡng chân lý Thiên Chúa; các hình thức chân lý khác giúp kiện toàn lý trí hướng về chân lý Thiên Chúa (ST 2a2ae, 180. 4. 4). Hơn nữa, theo thánh nhân, khôn ngoan chính là món quà của Chúa Thánh Thần cho con người. Với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, con người có được sự khôn ngoan cần thiết để phân định các thực tại, biết chiêm ngưỡng Thiên Chúa và thực thi thánh ý Người trong hành trình trần thế này.

Kinh Thánh Ki-tô Giáo có nhiều hình thức văn chương, trong đó, văn chương khôn ngoan (the sapiential literature) phát triển mạnh khoảng từ năm 400 trước Công Nguyên đến năm 100 sau Công Nguyên. Hình thức văn chương này đề cập nhiều lĩnh vực trong đời sống con người cũng như tương quan giữa con người với Thiên Chúa và vạn vật. Người khôn ngoan biết duy trì trật tự và hòa hợp với thế giới khả giác cũng như thế giới linh thiêng, với những thực thể chóng qua cũng như những thực thể bền vững, với những gì thuộc về thế gian cũng như những gì thuộc về Thiên Chúa. Giáo Hội Công Giáo nhìn nhận 46 cuốn sách thánh Cựu Ước, trong đó 7 cuốn được gọi là ‘các sách khôn ngoan’ hay ‘các sách giáo huấn’, bao gồm: Gióp, Thánh Vịnh, Châm Ngôn, Giảng Viên, Diễm Ca, Khôn Ngoan, Huấn Ca. Tuy nhiên, một số học giả Kinh Thánh cho rằng sách Thánh Vịnh và Diễm Ca thuộc loại thi phú hơn là khôn ngoan, đồng thời, sách Ba-rúc có thể được xếp vào loại các sách khôn ngoan. Về mặt tư tưởng, các sách khôn ngoan có 4 điểm nổi bật: (1) phổ quát, (2) lạc quan, (3) quy nhân, (4) trừu tượng. Những chủ đề thần học căn bản của các sách này là: Quy hướng về Thiên Chúa, sáng tạo, luân lý, lề luật. Trong khi đó các chủ đề như lời hứa, tuyển chọn, giao ước, xuất hành, lịch sử, các vua hay vai trò của Mô-sê lại ít được quan tâm hơn.

Chúng ta biết rằng văn chương khôn ngoan không chỉ thuộc về truyền thống Do-thái Giáo hay Ki-tô Giáo. Quả thật, văn chương khôn ngoan hiện diện nơi các truyền thống khác trước khi Do-thái Giáo và Ki-tô Giáo ra đời. Cụ thể là văn chương khôn ngoan Cựu Ước và Tân Ước chịu ảnh hưởng bởi các nền văn hóa và truyền thống quanh vùng Địa Trung Hải và Lưỡng Hà (Mesopotamia). Các tác giả Kinh Thánh đã dùng những hình ảnh, biểu tượng hay ngôn ngữ khôn ngoan của các dân tộc lân bang để tiếp cận, đúc kết và diễn tả khôn ngoan được Thiên Chúa mặc khải trong các tác phẩm của mình. Do đó, một mặt, chúng ta nhận thức rằng văn chương khôn ngoan trong Kinh Thánh hấp thụ gia sản khôn ngoan từ văn hóa và truyền thống của các dân tộc lân bang. Mặt khác, chúng ta cũng nhận thức được tính đặc thù của văn chương khôn ngoan trong Kinh Thánh. Nói cách khác, văn chương khôn ngoan trong Kinh Thánh có một lịch sử phát triển lâu dài và mang đậm tính ‘hội nhập văn hóa’ hầu diễn tả nội dung đức tin, nhất là diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa với con người và muôn vật muôn loài.

Theo các tác giả thuộc trường phái văn chương khôn ngoan Cựu Ước, sự khôn ngoan của con người được hiểu như là khả năng trí tuệ được diễn tả trong đời sống cá nhân, gia đình, xã hội qua những lời nói, câu hỏi, châm ngôn tinh tế và mang tính xây dựng. Khôn ngoan cũng được diễn tả qua tài khéo của những người chuyên môn thuộc nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, trong mọi hoàn cảnh, khôn ngoan thuộc về Thiên Chúa và sự khôn ngoan của con người là ân huệ Thiên Chúa tặng ban. Những suy tư, tìm kiếm, học hỏi của con người để gia tăng khả năng trí tuệ hay kinh nghiệm sống cần phải đặt nền tảng trên sự khôn ngoan của Thiên Chúa (1 Sb 22,12; Gv 2,26; Kn 9,4). Tuy nhiên, quan trọng nhất của khôn ngoan là ‘kính sợ Đức Chúa’: “Kính sợ Đức Chúa là bước đầu của tri thức. Kẻ ngu si khinh thường khôn ngoan và lời nghiêm huấn” (Cn 1,7); "Kính sợ Đức Chúa là bước đầu của khôn ngoan; biết Đấng Chí Thánh mới là hiểu biết thật" (Cn 9,10). Kính sợ ở đây không có nghĩa là sợ hãi, khủng khiếp, tìm cách chạy trốn sự hiện diện nhiệm mầu của Người trong đời sống mình. Kính sợ Thiên Chúa đồng nghĩa với việc tri ân, cảm tạ và tôn vinh Người. Về căn bản, người kính sợ Thiên Chúa là người biết quy hướng mọi tư tưởng, lời nói hay hành động của mình về Người bởi vì Người là Đấng toàn năng, toàn thiện, toàn mỹ: “Sự viên mãn của khôn ngoan là kính sợ Đức Chúa” (Hc 1,16); “Đường nẻo của khôn ngoan một mình Thiên Chúa tỏ, chính Người biết nơi ở của khôn ngoankính sợ Chúa Thượng, đó là khôn ngoan, tránh xa điều ác, đó là trí hiểu" (G 28,23-28). Theo sách Khôn Ngoan: “Bước đầu để đạt tới Đức Khôn Ngoan là thật lòng ham muốn học hỏi. Chăm lo học hỏi là yêu mến Đức Khôn Ngoan. Mà yêu mến là tuân giữ lề luật” (Kn 6,17-18).

Trong bối cảnh Cựu Ước, khôn ngoan và lề luật liên hệ chặt chẽ với nhau, chẳng hạn, theo sách Huấn Ca: “Khôn ngoan nào cũng là kính sợ Đức Chúa, trong mọi khôn ngoan đều có việc thi hành Lề Luật” (Hc 19,20); “Lề Luật làm cho khôn ngoan dâng trào như sông Pi-sôn, như sông Tích-ra vào mùa hái quả, cho hiểu biết đầy tràn như sông Êu-phơ-rát, như sông Gio-đan vào mùa gặt; cho lời dạy bảo chan hòa như sông Nin, như suối Ghê-khôn vào mùa nho chín” (Hc 24,25-27) hay: “Hãy đưa chân cho khôn ngoan xích lại, và cúi đầu cho khôn ngoan đặt dây cương. Hãy ghé vai mang lấy, và đừng bất mãn vì bị khôn ngoan ràng buộc” (Hc 6,24-25). Khi con người tuân giữ hay trung tín với lề luật của Thiên Chúa, con người trở nên khôn ngoan trên bình diện cá nhân cũng như tập thể, chẳng hạn như trên bình diện cá nhân: “Này con, nếu thôi không nghe lời nghiêm huấn, con sẽ lạc xa những lời lẽ khôn ngoan” (Cn 19,27) hay: “Ai tuân giữ Lề Luật sẽ điều khiển được tâm tư, khôn ngoan là hết lòng kính sợ Đức Chúa” (Hc 21,11). Trên bình diện tập thể, Mô-sê nói với dân Do-thái: “Anh em phải giữ và đem ra thực hành [thánh chỉ và quyết định của Đức Chúa], vì nhờ đó anh em sẽ được các dân coi là khôn ngoan và thông minh. Khi được nghe tất cả những thánh chỉ đó, họ sẽ nói: Chỉ có dân tộc vĩ đại này mới là một dân khôn ngoan và thông minh!” (Đnl 4,6). Sách Ba-rúc cũng cho chúng ta biết rằng Đức Khôn Ngoan được diễn tả nơi huấn giới của Thiên Chúa trong Sách Luật, Luật vĩnh cửu và đem lại sự sống (Br 4,1). Đặc biệt, ai làm bạn với Đức Khôn Ngoan thì được hưởng sự sống muôn đời (Kn 8,17).

Khi nói về các nhân vật khôn ngoan trong Cựu Ước, người ta thường nhắc Sa-lô-môn. Sách Các Vua trình thuật rằng, một hôm, trong giấc mộng, Đức Chúa hứa với vua sẽ ban điều vua mong ước. Sa-lô-môn đã không xin cho được sống lâu, được vinh quang, giàu sang, phú quý hay kẻ thù phải chết mà xin cho được ơn khôn ngoan để có thể hướng dẫn, phân định và xét xử dân Do-thái (1 V 3,4-9). Ý muốn của vua đẹp lòng Đức Chúa, Người nói: “Ta làm theo như lời ngươi: Ta ban cho ngươi một tâm hồn khôn ngoan minh mẫn, đến nỗi trước ngươi, chẳng một ai sánh bằng, và sau ngươi, cũng chẳng có ai bì kịp” (1 V 3,12). Hơn nữa, Đức Chúa còn nói với vua: “Cả điều ngươi không xin, Ta cũng sẽ ban cho ngươi: Giàu có, vinh quang, đến nỗi suốt đời ngươi không có ai trong các vua được như ngươi. Và nếu ngươi bước theo các đường lối của Ta, là tuân giữ các giới răn và mệnh lệnh của Ta, như Đa-vít thân phụ ngươi, thì Ta sẽ kéo dài ngày đời của ngươi” (1 V 3,13-14). Sách Các Vua còn cho chúng ta biết rằng Sa-lô-môn khôn ngoan hơn tất cả những người khôn ngoan ở Phương Đông và Ai-cập (1 V 5,9-10). Tuy nhiên, vua đã không sử dụng khôn ngoan được Đức Chúa phú ban cách xứng hợp. Càng ngày, vua càng xa rời Đức Chúa, theo các thần ngoại và qua đời trong cảnh đất nước trên đường bạo loạn, chia rẽ (1 V 11,26-43).

Sách Huấn Ca giúp chúng ta nhận thức về nguồn gốc và sự huyền diệu của khôn ngoan: “Khôn ngoan đã được tác thành trước vạn vật, sự hiểu biết anh minh đã có tự muôn đời” (Hc 1,4); “Đức Khôn Ngoan tự biểu dương và hãnh diện ở giữa dân mình… Ta phát xuất từ miệng Đấng Tối Cao và như mây mù, Ta bao phủ cõi đất” (Hc 24,1-3). Tương tự như vậy, tác giả sách Khôn Ngoan viết: “Chúa dùng lời Chúa mà tác thành vạn vật, dùng sự khôn ngoan Chúa mà cấu tạo con người, để con người làm chủ mọi loài Chúa dựng nên” (Kn 9,1-2) hay: “Đức Khôn Ngoan ở kề bên Chúa, biết những việc Chúa làm, hiện diện khi Ngài tạo thành vũ trụ, biết rõ những gì đẹp mắt Chúa và phù hợp với huấn lệnh của Ngài” (Kn 9,9). Nhìn chung, theo các trình thuật của Cựu Ước, nhất là sách Châm Ngôn và sách Khôn Ngoan, sự khôn ngoan của Thiên Chúa có trước con người cũng như muôn vật muôn loài. Chính Thiên Chúa dùng sự khôn ngoan của Người mà dựng nên muôn vật muôn loài, khôn ngoan như ‘tay thợ cả’ hay ‘tay thợ đã làm nên tất cả’ (Cn 8,30; Kn 8,6). Do đó, muôn vật muôn loài được in dấu sự khôn ngoan của Thiên Chúa và phản ánh sự khôn ngoan của Người (Rm 1,19-20).

Nhiều đặc tính và hành động của khôn ngoan (khôn ngoan ‘là/ being’ và khôn ngoan ‘làm/ doing’) trong Cựu Ước đáng được chúng ta quan tâm, chẳng hạn như khôn ngoan là vĩnh cửu, tiền hữu, siêu việt, nhiệm mầu, toàn năng, vô tận, bất biến, đa dạng, rực rỡ, sáng láng, hợp nhất, cư ngụ, sống động, trổi vượt, sáng tạo, nhanh nhạy, đổi mới, hiểu biết, cộng tác, gìn giữ, thúc đẩy, chỉ dẫn, dạy dỗ, lành thánh (G 28,1-28; Cn 3,3-15; Cn 3,17-18; Cn 8,4-6; Cn 8,22; Cn 8,27-29; Hc 1,9-10.26; Hc 24,7.12.19-22, Kn 6,18; Kn 1,7; Kn 7,14; Kn 8,4, Kn 9,9; Br 3,9–4,4). Đc bit, khôn ngoan đưc nhân cách hóa hay ngôi v hóa (personification), nghĩa là khôn ngoan không ch là mt đc tính ca Thiên Chúa, không chỉ là khôn ngoan (viết thưng) mà còn là Khôn Ngoan hay Đc Khôn Ngoan (viết hoa). Chẳng hạn: “Trên đỉnh cao bên đường phố, tại các giao lộ, Đức Khôn Ngoan đứng đó; bên cổng dẫn vào thành, nơi lối đi tới cửa thành, Đức Khôn Ngoan kêu to: Phàm nhân hỡi, ta mời gọi các ngươi đó, ta ngỏ lời với các ngươi, hỡi con cái loài người” (Cn 8,2-4); “Đức Khôn Ngoan tỏa ra từ quyền năng Thiên Chúa và rực lên trong ngần từ vinh hiển Đấng Toàn Năng, nên không thể vương một tì ố” (Kn 7,25); “Đức Khôn Ngoan phản chiếu ánh sáng vĩnh cửu, là tấm gương trong phản ánh hoạt động của Thiên Chúa, là hình ảnh lòng nhân hậu của Người” (Kn 7,26). Theo mặc khải Thiên Chúa từ Cựu Ước tới Tân Ước, chúng ta có thể nhận thức rằng khôn ngoan là thuộc tính của Ba Ngôi Thiên Chúa. Đặc biệt, khôn ngoan gắn liền với căn tính, đời sống và sứ mệnh của Đức Giê-su. Nhờ Người hướng dẫn, con người mới có thể hiểu biết Thiên Chúa, hiểu biết chính mình, hiểu biết thế giới thụ tạo và các tương quan trong đó cách rõ ràng hơn.

Đối với văn hóa Do-thái, ‘lời’ (דָּבָר/ dabar/ word) có nghĩa sâu rộng hơn ‘lời’ (λoγος/ logos/ word) trong văn hóa Hy-lạp hay các nền văn hóa khác trên thế giới bởi vì ‘lời’ trong văn hóa Do-thái gắn liền với sự vật, hiện tượng, hành động hay biến cố. Quả thật, một lời Chúa phán thì có sự vật, tạo nên các hiện tượng, biến cố tiếp diễn trong trật tự và hòa hợp (St 1,1-2,4a). Theo tác giả Thánh Vịnh 33: “Một lời Chúa phán làm ra chín tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú” (Tv 33,6). Lời quyền năng của Thiên Chúa trong Cựu Ước hướng tới và được tỏ bày cách trọn hảo nơi Ngôi Lời của Tân Ước. Tin Mừng Đức Giê-su theo thánh Gio-an cho chúng ta biết rằng Đức Giê-su là Lời Nhập Thể của Thiên Chúa: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Sách Huấn Ca và sách Ba-rúc của Cựu Ước cũng cho chúng ta nhận thức tương tự về khôn ngoan: “Hãy cắm lều ở Gia-cóp, hãy hưởng phần sản nghiệp ở Ít-ra-en” (Hc 24,8); “Đức Khôn Ngoan xuất hiện trên mặt đất và đã sống giữa loài người” (Br 3,38). Như vậy, theo mặc khải Ki-tô Giáo, Đức Giê-su vừa là Lời của Thiên Chúa vừa là Khôn Ngoan của Người. Thánh A-tha-na-xi-ô khẳng định rằng Đức Giê-su là Khôn Ngoan của Thiên Chúa, được sinh ra từ trước muôn đời. Đồng thời, Người cũng là Lời duy nhất của Thiên Chúa. Theo thánh nhân, Chúa Cha là Đấng vĩnh cửu, do đó, Lời và Khôn Ngoan của Người cũng là vĩnh cửu (Discourse 1, Against the Arians, Chapter 3,9). Những gì thánh Gio-an trình bày về Đức Giê-su là Lời của Thiên Chúa cũng cho phép chúng ta trình bày tương tự đối với Khôn Ngoan của Người. Chẳng hạn, trong thư thứ nhất, thánh Gio-an trình bày về sự gần gũi của Ngôi Lời Thiên Chúa đối với con người (1 Ga 1,1). Chúng ta cũng có thể diễn tả Khôn Ngoan của Thiên Chúa như vậy, nghĩa là: Khôn Ngoan của Thiên Chúa ‘được sinh ra từ trước muôn đời’ hay ‘được sinh ra mà không phải được tạo thành’ và với biến cố Nhập Thể, con người đã nghe, đã thấy, đã chiêm ngưỡng, đã chạm đến Khôn Ngoan của Thiên Chúa. Nói cách khác, với biến cố Nhập Thể, sự khôn ngoan của Thiên Chúa không còn là thực thể hay điều gì đó trừu tượng nhưng đã hiện diện ‘bằng xương bằng thịt’ giữa gia đình nhân loại.

Để chuẩn bị cho Đức Giê-su, Khôn Ngoan của Thiên Chúa, xuất hiện giữa lòng nhân loại, Thiên Chúa đã tuyển chọn thánh Gio-an Tẩy Giả, vị ngôn sứ được Đức Giê-su giới thiệu rằng: “Trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả” (Mt 11,11). Lời sứ thần truyền tin cho Da-ca-ri-a có đoạn về Gio-an Tẩy Giả như sau: “Ngay khi còn trong lòng mẹ, em đã đầy Thánh Thần. Em sẽ đưa nhiều con cái Ít-ra-en về với Đức Chúa là Thiên Chúa của họ. Được đầy thần khí và quyền năng của ngôn sứ Ê-li-a, em sẽ đi trước mặt Chúa, để làm cho lòng cha ông quay về với con cháu, để làm cho tâm tư kẻ ngỗ nghịch lại hướng về nẻo chính đường ngay, và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa” (Lc 1,15-17). Sau này, khi thi hành sứ mệnh, Đức Giê-su và Gio-an Tẩy Giả diễn tả sự khôn ngoan của Thiên Chúa, tuy nhiên, nhiều người đã không nhận ra điều đó. Đối với họ, khôn ngoan phải theo tiêu chuẩn truyền thống, tiêu chuẩn mà họ nghĩ là đúng với ý định của Thiên Chúa. Tuy nhiên, Đức Giê-su minh chứng rằng họ đã lầm lẫn khi không nhận ra Người cũng như Gio-an Tẩy Giả. Đức Giê-su nói: “Ông Gio-an đến, không ăn không uống, thì thiên hạ bảo: Ông ta bị quỷ ám. Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì thiên hạ lại bảo: Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi. Nhưng Đức Khôn Ngoan được chứng minh bằng hành động” (Mt 11,18-19). Những lời này của Đức Giê-su thúc giục chúng ta tìm hiểu Kinh Thánh để có được nhận thức rõ hơn về Đức Khôn Ngoan mà Người đề cập.

Tin Mừng Đức Giê-su theo thánh Lu-ca cho chúng ta biết rằng, thời thơ ấu, khi Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se đem Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem để tiến dâng cho Thiên Chúa. Được Thần Khí thúc đẩy, ông Si-mê-ôn đã gặp Đức Giê-su và nói tiên tri về Người (Lc 2,22-35). Nữ ngôn sứ đạo hạnh tên là An-na đêm ngày ăn chay cầu nguyện trong Đền Thờ cũng nói tiên tri về đứa trẻ (Lc 2,36-38). Sau đó, mọi người trong gia đình Đức Giê-su trở về Na-da-rét: “Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa” (Lc 2,40). Thánh Lu-ca cũng trình thuật rằng hằng năm, Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se trẩy hội lên Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Khi Đức Giê-su được mười hai tuổi, mọi người trong gia đình cùng tới đó. Xong việc, Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se lên đường trở về mà không biết rằng Đức Giê-su đang ở lại Giê-ru-sa-lem. Các ngài quay lại và sau ba ngày tìm kiếm, các ngài thấy Đức Giê-su trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa lắng nghe vừa đặt câu hỏi cho họ. Mọi người thán phục về sự khôn ngoan và thông minh của Người (Lc 2,43-47). Thánh Lu-ca trình thuật rằng: “Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Còn Đức Giê-su ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2,51-52). Điều này có nghĩa rằng Đức Giê-su là con người thật vì đã thông dự trọn vẹn bản tính nhân loại.

Trong hành trình trần thế sự hiện diện của Đức Giê-su là Khôn Ngoan của Thiên Chúa luôn gắn liền với sự hiện diện của Thần Khí Thiên Chúa. Sách ngôn sứ I-sai-a cho chúng ta biết rằng: “Từ gốc tổ Gie-sê, sẽ đâm ra một nhánh nhỏ, từ cội rễ ấy, sẽ mọc lên một mầm non. Thần khí Đức Chúa sẽ ngự trên vị này: Thần khí khôn ngoan và minh mẫn, thần khí mưu lược và dũng mãnh, thần khí hiểu biết và kính sợ Đức Chúa” (Is 11,1-2). Chúng ta cũng đọc được những điều tương tự nói về Đức Giê-su trong sách Khôn Ngoan, chẳng hạn: “Nơi Đức Khôn Ngoan, có một thần khí tinh tường và thánh thiện, duy nhất và đa năng, tinh tế và mau lẹ, minh mẫn và tinh tuyền, trong sáng và thản nhiên, lanh lợi và chuộng điều lành, bất khuất, từ bi và nhân ái, cương quyết, vững vàng và điềm tĩnh, làm được mọi sự và quan tâm đến mọi điều, thấu suốt mọi tâm can, kể cả tâm can của những người trong sạch, thông minh, tinh tế nhất” (Kn 7,22-23) hay: “Ý định của Chúa, nào ai biết được, nếu tự chốn cao vời, chính Ngài chẳng ban Đức Khôn Ngoan, chẳng gửi thần khí thánh?” (Kn 9,17). Như vậy, chúng ta có thể xác tín rằng Đức Giê-su là Khôn Ngoan của Thiên Chúa và Chúa Thánh Thần là Thần Khí Khôn Ngoan của Thiên Chúa. Nhờ Đức Giê-su và trong Chúa Thánh Thần, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi càng ngày càng được sáng tỏ. Đặc biệt, những giáo huấn của Đức Giê-su kiện toàn lề luật và lời các ngôn sứ trong Cựu Ước (Mt 5,17).

Chính Đức Giê-su đã tóm lược, khai triển và trình bày cách thức áp dụng hầu giúp mọi người hiểu biết hơn về sự khôn ngoan của Thiên Chúa trong bài giảng Tám Mối Phúc (Mt 5,1 - 7,29). Tuy nhiên, thật trớ trêu, đây là sự khôn ngoan mà nhiều người thuộc dân tộc Do-thái cũng như các dân khác trong gia đình nhân loại xem ra ‘không quen tai lắm’, chẳng hạn như những người nghèo khó, sầu khổ, bị bách hại là những người được chúc phúc. Đức Giê-su cũng dạy rằng ai vả má bên phải của mình thì giơ cả má bên trái cho họ vả nữa; hay yêu kẻ thù, cầu nguyện cho kẻ thù (Mt 5,39; Mt 5,44). Với Đức Giê-su, người khôn ngoan là người đem lại bình an, hòa thuận cho anh chị em mình chứ không phải là người gây hiểu nhầm, lập bè phái hay ẩn danh hoặc nặc danh làm hại người khác (Mt 12,33-37). Sự khôn ngoan mà Đức Giê-su diễn tả trong Tám Mối Phúc có thể làm cho một số người thất vọng. Tuy nhiên, đây là sự khôn ngoan đích thực mà Đức Giê-su muốn mọi người thực thi để mưu cầu hạnh phúc đích thực cho mình và anh chị em đồng loại hôm nay và mãi tới muôn đời.

Khi những người Pha-ri-sêu xin Đức Giê-su thực hiện một dấu lạ, Người đã nhắc lại dấu lạ ngôn sứ Giô-na: Ông đã ở trong bụng cá ba đêm ngày. Qua đó, Đức Giê-su cho họ biết chính Người cũng ở trong lòng đất như vậy hầu thông dự vào sự chết của con người và đem lại sự sống vĩnh cửu cho những ai gắn kết và trung tín thực thi giáo huấn của Người trong cuộc sống mình. Sau đó, Đức Giê-su nói với những người Pha-ri-sêu: “Trong cuộc phán xét, nữ hoàng Phương Nam sẽ đứng lên cùng với thế hệ này, và bà sẽ kết án họ, vì xưa bà đã từ tận cùng trái đất đến nghe lời khôn ngoan của vua Sa-lô-môn; mà đây thì còn hơn vua Sa-lô-môn nữa” (Mt 12,42). Dân Do-thái (nhất là các kinh sư và những người Pha-ri-sêu quen với truyền thống trong đó Sa-lô-môn được xem là người khôn ngoan nhất gia đình nhân loại) rất ngạc nhiên về những lời của Đức Giê-su. Khi gợi lại hình ảnh Sa-lô-môn, Đức Giê-su cho những người Pha-ri-sêu biết rằng họ đang theo lối mòn của Sa-lô-môn. Đức Giê-su ‘nhắc nhở’ họ rằng Sa-lô-môn đã không sử dụng sự khôn ngoan Thiên Chúa ban tặng cách xứng hợp. Còn Người đã diễn tả khôn ngoan Thiên Chúa cách tuyệt hảo bằng cả lời nói và hành động.

Đức Giê-su đã dùng nhiều dụ ngôn để giúp mọi người hiểu hơn về khôn ngoan của Thiên Chúa. Chẳng hạn, dụ ngôn người mục tử có một trăm con chiên nhưng mất một con, người ấy đã bỏ chín mươi chín con còn lại trên đồng hoang để tìm cho bằng được con chiên bị mất. Khi tìm được, người ấy vác chiên lên vai. Về tới nhà, người ấy mời bạn bè đến chia vui với mình (Lc 15,4-7). Tương tự như vậy, người phụ nữ có mười đồng quan nhưng mất một đồng, bà đốt đèn, quét nhà tìm cho bằng được. Khi tìm được đồng quan, bà mời bạn bè đến chia vui (Lc 15,8-10). Người chăn chiên thật mạo hiểm khi bỏ lại chín mươi chín con để đi tìm một con. Khi tìm được lại còn mời bạn bè chung vui. Người phụ nữ mất đồng quan cũng làm tương tự. Xét về mặt kinh tế, người mục tử cũng như người phụ nữ ‘bị lỗ nặng’ bởi vì mở tiệc đãi khách tốn kém hơn giá trị của con chiên hay đồng quan. Tuy nhiên, Đức Giê-su cho mọi người thấy rằng đối với Thiên Chúa, không phải mọi thứ đều ‘quy ra thóc’ hay nhìn nhận dưới lăng kính kinh tế hoặc tiêu chuẩn trần thế nào đó. Với Đức Giê-su, khôn ngoan của Thiên Chúa được diễn tả nơi tình yêu và lòng thương xót vô điều kiện của Người đối với mọi người, nhất là những người tội lỗi hay ‘thấp cổ bé họng’ dưới nhãn quan của khôn ngoan trần thế.

Trong lịch sử nhân loại, không ai có nhiều danh hiệu hay hình ảnh như Đức Giê-su. Kinh Thánh gợi cho chúng ta hơn 200 danh hiệu hay hình ảnh của Người. Một trong những danh hiệu đáng để chúng ta quan tâm: Đức Giê-su là Thầy Dạy khôn ngoan (Wisdom Teacher). Không chỉ dân thường mà thôi, các bậc vị vọng đạo đời đương thời đều nhận ra Đức Giê-su là Thầy Dạy khôn ngoan. Thánh Mác-cô trình thuật rằng ngay trong buổi đầu loan báo Tin Mừng tại Ca-phác-na-um: “Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư” (Mc 1,22). Thánh Gio-an Tông Đồ cũng trình thuật: “Các vệ binh trở về với các thượng tế và người Pha-ri-sêu. Họ liền hỏi chúng: Tại sao các anh không điệu ông ấy về đây? Các vệ binh trả lời: Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy!” (Ga 7,45-46). Quả thật, lời giảng dạy của Đức Giê-su đã đi vào tâm can và biến đổi mọi người, ngoại trừ những người bám víu truyền thống cố hữu hay nệ luật, không muốn biến đổi. Lời giảng dạy của Người không chỉ đụng chạm đến các vấn đề tôn giáo mà còn các vấn đề khác trong xã hội loài người. Đức Giê-su nói chuyện với những người lãnh đạo Do-thái, với những người đại diện hoàng đế Rô-ma, với các tầng lớp dân chúng khác nhau trong hành trình loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa.

Trong Tin Mừng Đức Giê-su theo thánh Mát-thêu, thánh nhân trình thuật việc Đức Giê-su nói về sự cứng lòng của dân chúng ở các thành ven Biển Hồ Ga-li-lê như Kho-ra-din, Bết-xai-đa, Ca-phác-na-um (Mt 11,20-24). Đức Giê-su cho họ biết rằng nếu dân các thành lân bang như Tia, Xy-đôn, Xơ-đôm được chứng kiến những phép lạ Người thực hiện như ở Kho-ra-din, Bết-xai-đa và Ca-phác-na-um thì dân ở các thành đó đã mặc áo vải thô, rắc tro lên đầu tỏ lòng ăn năn sám hối. Những người Do-thái cho rằng họ là ‘dân khôn’, còn những người ở các thành lân bang là ‘dân ngoại’, là ‘dân dại’. Đức Giê-su đã đảo lộn trật tự để cho những người Do-thái biết rằng khôn hay dại không lệ thuộc vào bất cứ tiêu chuẩn nào mà con người thiết đặt nhưng dựa vào tâm hồn luôn rộng mở đón nhận các dấu chỉ của Thiên Chúa, đọc được ý nghĩa của các dấu chỉ đó và thực thi thánh ý của Thiên Chúa qua các dấu chỉ đó cách trung tín nhất. Thánh Mát-thêu tiếp tục trình thuật lời của Đức Giê-su thân thưa cùng Chúa Cha: "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Mt 11,25-26). Quả thật, khôn ngoan thông thái của ‘dân được chọn’ hay của ‘các đấng bậc’ trong xã hội Do-thái lạc nhịp với khôn ngoan của Thiên Chúa mà Đức Giê-su giảng dạy và minh chứng bằng hành động.

Khi dn mt ngưi ph n b bt qu tang phm ti ngoi tình đến trưc Đc Giê-su, các kinh sư và những ngưi Pha-ri-sêu hỏi Ngưi: “Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” (Ga 8,5). Họ hi Đc Giê-su như vậy nhm tìm cách tố cáo Ngưi. Tuy nhiên, Đức Giê-su đã không hành xử theo bất cứ cách thức nào mà các kinh sư và người Pha-ri-sêu dự tính. Người đã dùng ‘lời khôn ngoan’ của Thiên Chúa hầu giúp những người có ý xấu phải tự vấn lương tâm mình khi kết tội người khác. Đức Giê-su nói: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8,7). Thánh Gio-an cho chúng ta biết rằng những người lên án người phụ nữ và gài bẫy Đức Giê-su bỏ đi hết, bắt đầu từ những người lớn tuổi nhất. Họ là những người ‘khôn ngoan nhất’, ‘nhiều kinh nghiệm nhất’ và có lẽ cũng là những người ‘tội lỗi nhiều nhất’. Quả thật, sự khôn ngoan của họ là sự khôn ngoan dưới đất, sự khôn ngoan trần thế, sự khôn ngoan dẫn xuất từ ác thần. Qua câu chuyện này, chúng ta thấy rằng ưu tiên của luật Đức Giê-su là yêu thương, tha thứ, biến đổi, đem lại sự sống chứ không phải là thù hằn, trừng phạt, cố chấp, dẫn đến sự chết.

Đức Giê-su còn diễn tả sự khôn ngoan của Người qua những câu hỏi khiến những ai cứng lòng hay chất vấn Người cảm nhận được những giới hạn hay yếu thế của mình. Chẳng hạn, khi các thượng tế chất vấn về quyền bính của Đức Giê-su, Người hỏi họ: “Phép rửa của ông Gio-an do đâu mà có? Do Trời hay do người ta?” (Mt 21,25); trong tương quan giữa Đấng Ki-tô và vua Đa-vít, Đức Giê-su hỏi những người Pha-ri-sêu: “Nếu vua Đa-vít gọi Đấng Ki-tô là Chúa Thượng, thì làm sao Đấng Ki-tô lại là con vua ấy được? Không ai đáp lại Người được một tiếng. Và từ ngày ấy, chẳng ai còn dám chất vấn Người nữa” (Mt 22,45-46); khi các kinh sư và người Pha-ri-sêu lẫn lộn tôn ti trật tự các giá trị liên quan đến việc phụng thờ, Đức Giê-su nói với họ: “Vàng hay Đền Thờ là nơi làm cho vàng nên của thánh, cái nào trọng hơn? Các người còn nói: Ai chỉ bàn thờ mà thề, thì có thề cũng như không; nhưng ai chỉ lễ vật trên bàn thờ mà thề, thì bị ràng buộc. Đồ mù quáng! Thế thì lễ vật hay bàn thờ là nơi làm cho lễ vật nên của thánh, cái nào trọng hơn? Vậy ai chỉ bàn thờ mà thề, là chỉ bàn thờ và mọi sự trên bàn thờ mà thề. Và ai chỉ Đền Thờ mà thề, là chỉ Đền Thờ và Đấng ngự ở đó mà thề” (Mt 23,17-21). Một số câu hỏi gợi ý khác của Đức Giê-su làm cho mọi người trong gia đình nhân loại luôn suy gẫm, chẳng hạn như khi những người Pha-ri-sêu rình xem Đức Giê-su có chữa bệnh trong ngày sa-bát không, Người hỏi họ: “Ngày sa-bát, được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay giết đi?” (Mc 3,4) hay: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?” (Mt 16,26).

Với thánh Phao-lô, khôn ngoan của mặc khải Kinh Thánh là khôn ngoan quy Ki-tô (Christocentric wisdom). Khi so sánh nhãn quan cố hữu của những người Do-thái cũng như Hy-lạp về biến cố Đức Giê-su chịu đóng đinh trên thập giá, trong thư gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô khẳng định rằng Đức Giê-su là sức mạnh và khôn ngoan của Thiên Chúa (Θεού δύναμις και Θεού σοφία, 1 Cr 1,24). Tiếp tục diễn tả khôn ngoan của Thiên Chúa qua biến cố này, thánh nhân bộc lộ tâm tình sâu đậm của ngài với họ: “Khi tôi đến với anh em, tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa. Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô, mà là Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá” (1 Cr 2,1-2). Đối với thánh nhân: “Sự khôn ngoan đời này là sự điên rồ trước mặt Thiên Chúa, như có lời chép rằng: Chúa bắt được kẻ khôn ngoan bằng chính mưu gian của chúng” (1 Cr 3,19). Các giáo phụ như Giút-ti-nô (100-165), Ô-ri-gen (185-253), A-tha-na-xi-ô (298-373) tiếp tục khẳng định và khai triển tư tưởng này của thánh Phao-lô. Đặc biệt, theo thánh Au-gút-ti-nô (354-430): “Chính Thiên Chúa là sự khôn ngoan cao cả nhất; phụng thờ Thiên Chúa là sự khôn ngoan của con người” (On the Trinity, Book XIV, 1, 1). Cùng với thánh Phao-lô và A-tha-na-xi-ô, thánh Au-gút-ti-nô nhấn mạnh rằng Đức Giê-su là Con Một Thiên Chúa và là Khôn Ngoan của Người (On the Trinity, Book XIV, 1, 1). Cũng theo thánh nhân, sự khôn ngoan đích thực của con người đặt nền tảng trên sự khôn ngoan của Thiên Chúa (On the Trinity, Book XIV, 12, 15).

Những người Hy-lạp ở Cô-rin-tô cho rằng họ thuộc dòng dõi các triết gia lỗi lạc, hậu duệ của các bậc tiền nhân khôn ngoan và thông minh xuất chúng. Do đó, mọi sự cần được nhìn nhận, lượng định, đánh giá qua lăng kính của họ. Đối với họ, Đức Giê-su chịu đóng đinh thập giá không thể so sánh với các vị thần hay thực thể thuộc thế giới linh tượng mà họ luôn hướng tới. Còn đối với những người Do-thái, Đức Giê-su cần phải thực hiện nhiều điềm thiêng dấu lạ cả thể nữa mới có thể minh chứng rằng Người từ Thiên Chúa mà đến. Dĩ nhiên, theo họ, những dấu lạ này phải diễn tả quyền năng bách chiến bách thắng trước mọi quân thù mà cha ông họ đã từng chứng kiến, chẳng hạn như biến cố Thiên Chúa giải phóng tổ tiên họ khỏi ách nô lệ Ai-cập. Nói cách khác, Đức Giê-su chịu đóng đinh trên thập giá là ô nhục đối với dân Do-thái và điên rồ đối với dân Hy-lạp bởi vì biến cố này nằm ngoài truyền thống minh triết của người Hy-lạp hay não trạng thiên dấu lạ của người Do-thái. Đó là lý do tại sao thánh Phao-lô nhắc nhở các tín hữu Cô-rin-tô rằng: “Đừng ai tự lừa dối mình. Nếu trong anh em có ai tự cho mình là khôn ngoan theo thói đời, thì hãy trở nên như điên rồ, để được khôn ngoan thật” (1 Cr 3,18).

Tương tự như các tác giả văn chương khôn ngoan Cựu Ước, thánh Phao-lô nhấn mạnh sự khôn ngoan kỳ diệu của Thiên Chúa so với tâm thức hạn hẹp của con người: “Chúng tôi giảng dạy lẽ khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa đã được giữ bí mật, lẽ khôn ngoan mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn đời, cho chúng ta được vinh hiển” (1 Cr 2,7) hay: “Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người, ai dò cho thấu! Đường lối của Người, ai theo dõi được! Thật vậy, ai đã biết tư tưởng của Chúa? Ai đã làm cố vấn cho Người? Ai đã cho Người trước, để Người phải trả lại sau?” (Rm 11,33-35). Trong thư gửi tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô diễn tả sự khôn ngoan của Thiên Chúa được Giáo Hội, Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô, đón nhận, sống và loan báo: “Mầu nhiệm này đã được giữ kín từ muôn thuở nơi Thiên Chúa là Đấng tạo thành vạn vật, để giờ đây, nhờ Hội Thánh, mọi quyền năng thượng giới được biết sự khôn ngoan thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa” (Ep 3,9-10). Là người thấm nhuần truyền thống Cựu Ước, thánh Phao-lô cho chúng ta nhận thức rằng nơi Đức Giê-su, sự khôn ngoan của Thiên Chúa trong lịch sử mặc khải được kiện toàn. Chúng ta biết rằng trong 13 thư của thánh nhân, thư gửi tín hữu Rô-ma được xem là sâu sắc nhất. Câu cuối cùng của thư này là: “Chỉ mình Thiên Chúa là Đấng khôn ngoan thượng trí. Kính dâng Người mọi vinh quang đến muôn thuở muôn đời, nhờ Đức Giê-su Ki-tô. A-men” (Rm 16,27).

Trong bộ Tân Ước, thư thánh Gia-cô-bê gần với văn chương khôn ngoan Cựu Ước. Ngay trong những câu đầu tiên, thánh nhân đã đề cập chủ đề khôn ngoan. Ngài viết: “Nếu ai trong anh em thiếu đức khôn ngoan, thì hãy cầu xin Thiên Chúa, Người sẽ ban cho. Vì Thiên Chúa ban cho mọi người cách rộng rãi, không quở trách” (Gc 1,5). Lời khuyên dạy của thánh nhân mang âm hưởng của sách Khôn Ngoan trong Cựu Ước: “Đức Khôn Ngoan, tôi không thể có được, nếu Thiên Chúa chẳng ban cho tôi, - biết được ơn này do ai ban tặng, thì cũng đã khôn ngoan phần nào rồi” (Kn 8,21). Với thánh Gia-cô-bê, trong gia đình nhân loại, không ai có thể tự mình tạo nên sự khôn ngoan đích thực, sự khôn ngoan có thể dẫn đưa con người đến nguồn hạnh phúc viên mãn. Đặc biệt, thánh nhân đề cập hai hình thức khôn ngoan, khôn ngoan giả và khôn ngoan thật. Dấu chỉ của khôn ngoan giả là ghen tương, tranh chấp, gây xáo trộn, tự cao, dối trá, giả hình, thiên vị (Gc 3,16). Còn dấu chỉ của khôn ngoan thật là thanh khiết, hiếu hòa, khoan dung, từ bi, chân thật, công chính, bình an (Gc 3,17). Khôn ngoan giả là khôn ngoan trần thế, khôn ngoan xác thịt, khôn ngoan khởi xướng bởi ác thần, khôn ngoan dẫn con người đến sự chết muôn đời, khôn ngoan đã được đề cập đến trong sách ngôn sứ I-sai-a: “Khốn thay những kẻ coi mình là khôn ngoan, và cho mình là thông minh” (Is 5,21). Trong khi đó, khôn ngoan thật là khôn ngoan thượng giới, khôn ngoan khởi xuất từ Thần Khí Thiên Chúa, khôn ngoan dẫn con người đến sự sống vĩnh cửu. Thánh Gia-cô-bê viết: “Đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết” (Gc 2,17). Theo tư tưởng của thánh nhân, chúng ta có thể nói tương tự như thế về khôn ngoan. Nghĩa là, khôn ngoan của con người cần được chứng minh bằng hành động, bằng lối sống, bằng sự hy sinh, quên mình theo gương Đức Giê-su, Khôn Ngoan của Thiên Chúa giữa lòng nhân loại.

Trong Giáo Hội sơ khai, các môn đệ Đức Giê-su đã chọn bảy người đầy tiếng tốt, đầy Thần Khí và đầy khôn ngoan để cộng tác với các ngài trong việc loan báo Đức Giê-su và Tin Mừng của Người (Cv 6,3). Thánh Tê-pha-nô là người điển hình nhất của nhóm được chọn. Trong diễn từ trước vị thượng tế và dân chúng, thánh nhân đã điểm lại lịch sử dân Do-thái kể từ Áp-ra-ham, nhất là nhân vật Giu-se, con trai Gia-cóp: “Thiên Chúa cứu ông khỏi mọi bước ngặt nghèo, cho ông được cảm tình của Pha-ra-ô, vua Ai-cập, và được khôn ngoan trước mặt nhà vua, khiến nhà vua đặt ông làm tể tướng cai quản nước Ai-cập và toàn thể hoàng cung” (Cv 7,10). Chính nhờ sự khôn ngoan được Thiên Chúa ban tặng, Giu-se đã hòa giải với anh em mình và trở thành người cứu giúp cả dân tộc Do-thái. Hơn nữa, sự khôn ngoan của Giu-se đã tham dự vào chương trình Thiên Chúa cứu độ nhân loại bởi vì Đức Giê-su, Con Thiên Chúa xuống thế làm Người, là con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham (Mt 1,1). Như vậy, mặc khải Ki-tô Giáo về sự khôn ngoan và những suy tư của các thánh nhân trong lịch sử về chủ đề này cho phép chúng ta khái quát rằng sự khôn ngoan của con người là giới hạn, phiến diện, thiếu sức sống, còn sự khôn ngoan của Thiên Chúa là vô hạn, viên mãn và luôn sống động.

Tin Mừng Đức Giê-su theo thánh Gio-an cũng như các thư của ngài diễn tả Đức Giê-su là Ngôi Lời của Thiên Chúa với các phẩm tính và sứ mệnh của Đức Khôn Ngoan. Hơn nữa, theo thánh Gio-an, trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su cho các môn đệ biết rằng Người là Đường (Ga 14,6). Căn tính, đời sống và sứ mệnh của Đức Giê-su cho chúng ta nhận ra Đường của Người là Đường Khôn Ngoan. Bởi vì, nhờ Người, nhân loại hiểu biết hơn về sự khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa; nhờ Người, nhân loại có thể phân biệt được đâu là khôn ngoan của Thiên Chúa và đâu là khôn ngoan của con người hay ác thần. Đặc biệt, nhờ Người, nhân loại cảm nhận được tình yêu nhiệm mầu của Thiên Chúa. Hành trình trần thế của Đức Giê-su giúp chúng ta rút ra bài học rằng sự khôn ngoan của Thiên Chúa chỉ đến với những ai biết mở rộng tâm trí, đặt niềm tin tưởng vào quyền năng của Người đối với bản thân mình cũng như mọi người trong gia đình nhân loại. Đức Giê-su cũng cho chúng ta biết rằng tri thức và kinh nghiệm thuần túy của con người khó có thể tiếp cận sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Do đó, con người cần biết hạ mình, trút bỏ chính mình theo khuôn mẫu Đức Giê-su để có thể đón nhận, sống và diễn tả sự khôn ngoan của Thiên Chúa.

Dưới nhãn quan Kinh Thánh, con người được Thiên Chúa sáng tạo, được Thiên Chúa phú bẩm sự khôn ngoan để có thể làm lành, lánh dữ hầu luôn sống xứng đáng với phẩm giá của mình. Tuy nhiên, con người đã vô ơn, đã kiêu ngạo, đã phạm tội. Hậu quả là sự khôn ngoan của con người bị méo mó, biến dạng so với hình thức vốn có ban đầu khi được Thiên Chúa sáng tạo. Do đó, với sự khôn ngoan bị thương tổn của mình, con người khó có thể thực thi thánh ý Thiên Chúa cách phù hợp. Đặc biệt, với sự khôn ngoan bị thương tổn của mình, con người không thể tự giải thoát khỏi quyền lực tội lỗi và sự chết. Đó là lý do tại sao Đức Giê-su đã đi Đường Khôn Ngoan của Thiên Chúa để đến cùng nhân loại hầu khôi phục phẩm giá và sự khôn ngoan của con người theo chương trình của Thiên Chúa. Như vậy, với sự trợ giúp của Đức Giê-su, Đường Khôn Ngoan của Thiên Chúa, sự khôn ngoan của con người dần được biến đổi và trở nên khí cụ giúp con người vượt qua muôn vàn chướng ngại trong hành trình trần thế.

Qua dòng lịch sử, nhiều người chủ trương khôn ngoan của con người là vô hạn. Họ hy vọng rằng, trong tương lai, con người có thể hiểu biết, phân định, đánh giá và đưa ra những câu trả lời thỏa đáng cho mọi vấn đề liên quan đến bản thân cũng như muôn vật muôn loài. Điều này có nghĩa là không có gì mà khôn ngoan của con người không thể vươn tới. Tuy nhiên, mặc khải Ki-tô Giáo cũng như kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta biết khôn ngoan của con người đầy khiếm khuyết, lắm bất toàn, nhiều giới hạn. Con người không bao giờ hiểu biết mình ‘như mình là’ hay hiểu biết muôn vật muôn loài ‘như chúng là’. Thánh Phao-lô viết: “Con người sống theo tính tự nhiên thì không đón nhận những gì của Thần Khí Thiên Chúa, vì cho đó là sự điên rồ; họ không thể biết được, bởi vì phải nhờ Thần Khí mới có thể xét đoán” (1 Cr 2,14). Chỉ có khôn ngoan của Thiên Chúa được diễn tả nơi Đức Giê-su, Đường Khôn Ngoan, mới nâng cấp, giải phóng và trợ giúp khôn ngoan của con người cách xứng hợp. Như vậy, khi con người càng biết tham chiếu Đường Khôn Ngoan của Đức Giê-su bao nhiêu thì con người càng được gần gũi và gắn bó với Thiên Chúa bấy nhiêu.

Như đề cập ở trên, sự khôn ngoan mà con người cần đến không chỉ là sự khôn ngoan tự nhiên mà còn là sự khôn ngoan siêu nhiên, sự khôn ngoan được ban tặng, sự khôn ngoan hay là ơn khôn ngoan, ơn đầu tiên trong ‘Bảy Ơn Cả của Chúa Thánh Thần’. Ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần cho phép con người dõi bước theo Đường Đức Giê-su trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống mình. Trong thư gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô viết: “Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung. Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bày… chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tùy theo ý của Người” (1 Cr 12,7-11). Nhờ ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, con người mới có thể ở lại, lắng nghe, tin tưởng và hiệp thông với Thiên Chúa trong mọi biến cố của cuộc đời. Nhờ ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, con người mới có khả năng đón nhận, lĩnh hội và sống theo lời của Thiên Chúa. Thánh Phao-lô minh định điều này khi viết: “Chúng tôi không dùng những lời lẽ đã học được nơi trí khôn ngoan của loài người, nhưng dùng những lời lẽ học được nơi Thần Khí; chúng tôi dùng những lời lẽ Thần Khí linh hứng để diễn tả thực tại thuộc về Thần Khí” (1 Cr 2,13).

Như đề cập ở trên, theo mặc khải Ki-tô Giáo, khôn ngoan đích thực là khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa. Người đón nhận khôn ngoan của Thiên Chúa cần biết chiêm ngắm Đức Giê-su, nhất là cách thức Người diễn tả khôn ngoan bằng hành động, bằng lối sống, bằng lời rao giảng. Người khôn ngoan đích thực biết cho đi hơn là lãnh nhận; biết hy sinh hơn là thụ hưởng; biết lắng nghe hơn là giảng dạy; biết thinh lặng hơn là ồn ào; biết xây dựng bình an hơn là gây chia rẽ; biết hướng về người khác hơn là hướng về chính mình; biết cam chịu hơn là phàn nàn; biết dùng thời gian để cảm tạ hơn là than trách số phận; biết nhìn bức tranh lớn của gia đình nhân loại hơn là bức tranh nhỏ của bản thân mình; biết chấp nhận bầm dập hơn là tìm kiếm sự an toàn giả tạo; biết hướng về trời cao hơn là chăm chú nhìn đất thấp; biết để tâm đến kho tàng tình yêu vĩnh cửu hơn là bám víu hoa lợi trần thế chóng qua mau tàn. Tắt một lời, người khôn ngoan đích thực biết tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa và thực thi thánh ý Người cách đầy đủ nhất theo mẫu gương Đức Giê-su.

Người khôn ngoan là người biết quy hướng đời sống luân lý của mình về giáo huấn của Thiên Chúa. Thánh Phao-lô ca ngợi các tín hữu Rô-ma: “Ai ai cũng biết rằng anh em vâng phục Thiên Chúa; bởi thế tôi lấy làm vui vì anh em. Nhưng tôi muốn cho anh em khôn ngoan làm điều tốt, trong sạch không làm điều xấu” (Rm 16,19). Những lời trong sách Châm Ngôn sau đây đáng để mọi người suy gẫm: “Ai bảo kẻ gian ác rằng ‘anh vô tội!’ thì sẽ bị các dân nguyền rủa, các nước cười chê. Còn ai răn đe nó, ắt sẽ được mừng vui và phúc lành sẽ đến trên người đó” (Cn 24,24-25). Nhờ sự khôn ngoan của Thiên Chúa, con người mới có thể sống công chính, thánh thiện, có tâm hồn ngay thẳng để phân biệt phải trái, biết cộng tác với Thiên Chúa và với nhau trong việc duy trì muôn vật muôn loài trong an bình, trật tự (Kn 9,1-3). Những lời của Đức Khôn Ngoan xa xưa vẫn luôn mang tính thời sự: “Bổng lộc và quà cáp làm mờ mắt bậc khôn ngoan, khiến miệng họ mắc quai, không còn dám khiển trách” (Hc 20,29); “Ai nghe lời Ta sẽ không phải thẹn thùng, ai hoạt động trong Ta sẽ không hề phạm tội” (Hc 24,22). Còn thánh Phao-lô thì khuyên dạy các tín hữu Ê-phê-xô: “Anh em hãy cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì chúng ta đang sống những ngày đen tối” (Ep 5,15-16). Do đó, chỉ trong Đức Giê-su là Đường Khôn Ngoan của Thiên Chúa, con người mới có thể tin tưởng, đón nhận và thực thi đời sống luân lý của mình cách tốt đẹp, lành thánh.

Trong cuộc sống hằng ngày, nhiều người lầm tưởng rằng người khôn ngoan là người thông minh, tài giỏi với nhiều kỹ năng, kỹ xảo trổi vượt. Tuy nhiên, mỗi người cần tập cho mình thái độ dè dặt đối với khả năng trí tuệ, sự thông minh hay ‘khôn ngoan trần thế’ bởi vì nhiều khi chúng đưa đến cho bản thân cũng như anh chị em biết bao gian lao khốn khó (Gv 1,18). Thực tế cho thấy có những người thông giỏi về nhiều lĩnh vực nhưng họ không phải là người khôn ngoan. Theo mặc khải Ki-tô Giáo, người khôn ngoan đích thực là người biết khiêm tốn nhìn nhận sự yếu đuối mọn hèn của mình và biết hướng lòng về Thiên Chúa. Người khôn ngoan đích thực là người ‘nhận ra ý trời’, ‘đọc được ý trời’ và ‘sống theo ý trời’. Điều này có nghĩa rằng người khôn ngoan đích thực luôn hướng tâm trí về trời cao, về sự sống đời đời, về Ánh Sáng rạng ngời, bất biến. Người khôn ngoan đích thực không cho rằng mình hiểu biết mọi sự mà là người chấp nhận những giới hạn của bản thân và cậy dựa vào ‘ơn trên’ trong mọi hoàn cảnh. Theo sách Huấn Ca: “Khôn ngoan xa cách kiêu ngạo, và vắng bóng trong tâm tưởng những người gian dối” (Hc 15,8). Đặc biệt, theo giáo huấn của Đức Giê-su, người khôn ngoan là người biết luôn tìm kiếm sự thật, tôn trọng sự thật và hành động theo sự thật cho dù phải chịu đau khổ, thiệt thòi, thậm chí phải hy sinh tính mạng (Lc 9,23-27).

Đức Giê-su là Sự Thật, là Thiên Chúa thật và con người thật. Do đó, Người vừa là sự khôn ngoan đích thực của Thiên Chúa vừa là sự khôn ngoan trọn hảo của con người. Thánh Phao-lô diễn tả rõ hơn về điều này: “Chính nhờ Thiên Chúa mà anh em được hiện hữu trong Đức Ki-tô Giê-su, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em, hợp như lời đã chép rằng: Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa” (1 Cr 1,30-31). Theo thánh Phao-lô, Đức Giê-su vừa là Đấng Khôn Ngoan, vừa là Nguồn khôn ngoan và là Đấng làm cho mọi người được khôn ngoan hầu có thể sống xứng hợp với ơn gọi Ki-tô hữu của mình. Mọi người được mời gọi đến với Đức Giê-su là Đường Khôn Ngoan và cũng là Đức Khôn Ngoan vĩnh cửu của Thiên Chúa, bởi vì: “Đức Khôn Ngoan sáng chói, và không hề tàn tạ. Ai mến chuộng Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan dễ dàng cho chiêm ngưỡng. Ai tìm kiếm Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan cho gặp. Ai khao khát Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan đi bước trước mà tỏ mình cho biết” (Kn 6,12-13). Như vậy, để khỏi sa vào các hình thức khôn ngoan giả tạo đang hoành hành nơi trần thế, mọi người cần dõi theo Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa trong Cựu Ước được diễn tả nơi Đức Giê-su, Đường Khôn Ngoan của Thiên Chúa trong Tân Ước.

Ai dõi theo Đức Giê-su, là Đường Khôn Ngoan của Thiên Chúa, thì được mời gọi sống theo những tiêu chuẩn và giá trị mà Đức Giê-su truyền dạy, đồng thời, nhiệt tâm loan báo Đức Giê-su cho anh chị em đồng loại bởi vì “trong Người có cất giấu mọi kho tàng của sự khôn ngoan và hiểu biết” (Cl 2,3). Trước khi bước vào cuộc thương khó, Đức Giê-su căn dặn các môn đệ rằng Người sẽ ban ơn khôn ngoan để giúp họ làm chứng cho Người cũng như Tin Mừng của Người giữa những bấp bênh, đau khổ và khó khăn của sứ vụ: “Người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy. Đó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy. Vậy anh em hãy ghi lòng tạc dạ điều này, là anh em đừng lo nghĩ phải bào chữa cách nào. Vì chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan, khiến tất cả địch thủ của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được” (Lc 21,12-15). Trong Bữa Ăn Cuối Cùng, Đức Giê-su cho các môn đệ biết rằng Người là Bạn của họ (Ga 15,14-15). Điều này gợi lên trong chúng ta về vai trò của Đức Khôn Ngoan trong Cựu Ước: “Đức Khôn Ngoan ngự vào những tâm hồn thánh thiện, biến họ nên bạn hữu của Thiên Chúa, nên ngôn sứ của Người” (Kn 7,27). Như vậy, nhờ Đức Khôn Ngoan, nhờ Đức Giê-su là Đường Khôn Ngoan và là Bạn, các tín hữu trở thành bạn hữu của Thiên Chúa cũng như ngôn sứ của Người trong gia đình nhân loại.

Những trình bày trên đây cho phép chúng ta kết luận rằng giữa muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo, con người được Thiên Chúa phú ban sự khôn ngoan để nhận ra và thực thi thánh ý Người. Tuy nhiên, con người đã không sử dụng sự khôn ngoan của mình cách xứng hợp. Chính vì thế, Thiên Chúa đã gửi Đức Giê-su là Khôn Ngoan của Thiên Chúa đến với gia đình nhân loại để ‘nhờ Đức Giê-su, với Đức Giê-su và trong Đức Giê-su’, sự khôn ngoan của con người được khôi phục, biến đổi và trở nên khí cụ giúp con người tin tưởng và thực thi thánh ý Thiên Chúa hầu được hưởng ơn cứu độ. Giáo huấn Đức Giê-su cho phép chúng ta nhận thức rằng Thiên Chúa là Đấng khôn ngoan, Nguồn Gốc khôn ngoan và chia sẻ khôn ngoan của Người cho nhân loại. Chương trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa diễn tả sự khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa, sự khôn ngoan vượt trên các hình thức cảm nhận, phân định và hiểu biết của con người. Hành trình trần thế của Đức Giê-su cũng là hành trình diễn tả sự khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa. Ai theo Đức Giê-su, Đường Khôn Ngoan của Thiên Chúa cách trung tín và xứng hợp thì phân biệt được khôn ngoan thật và khôn ngoan giả, khôn ngoan Thiên Chúa và khôn ngoan thế gian, khôn ngoan thượng xuất từ tình yêu Thiên Chúa và khôn ngoan hạ khởi từ bóng tối của ác thần, khôn ngoan đem lại sự sống vĩnh cửu và khôn ngoan dẫn tới sự chết muôn đời. Ước gì mọi người trong gia đình nhân loại biết luôn gắn bó và đồng hành với Đức Giê-su là Đường Khôn Ngoan của Thiên Chúa trong hành trình trần thế này, hầu đạt tới bến bờ hạnh phúc muôn đời.

----------------------------

Gm. Phêrô Nguyễn Văn Viên

Nguồn:https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/duc-gie-su-ki-to-duong-khon-ngoan-46323

WORLD WORLD