Friday, November 9, 2018

23 bức ảnh hiếm về Việt Nam cách đây hơn 100 năm
Người cập nhật :  

Những bức ảnh hiếm còn sót lại của Việt Nam xưa những năm 1850-1950 dưới đây sẽ giúp chúng ta hình dung được khung cảnh Việt Nam trong quá khứ. Mời các bạn cùng xem.

Gánh phở rong trên phố Hà Nội năm 1890. (Ảnh: Internet)
Võng quan đi công chuyện 1890. (Ảnh: Internet)
Một ngôi làng ở ngoại ô Hà Nội 1890. (Ảnh: Internet)
Một đám cưới ở Saigon năm 1866. (Ảnh: Internet)
Lợn ỉn – lợn Móng Cái 1860. (Ảnh: Internet)
Khai trương chạy thử tuyến tàu Hỏa đầu tiên ở Đông Dương, tuyến Sài Gòn- Mỹ Tho năm 1881. (Ảnh: Internet)
Quang cảnh Hồ Gươm + cầu Thê Húc – Hà Nội năm 1896 – ảnh đẹp và có chất lượng tốt đến ngạc nhiên. (Ảnh: Internet)
 
Công trường xây dựng phố Charner (1866), bây giờ là đường Nguyễn Huệ. (Ảnh: Internet)
Những nhạc công ở Saigon năm 1866. (Ảnh: Internet)
Cờ xí rợp trời quan sứ đến – Khoa thi ở Nam Định năm 1900. (Ảnh: Internet)
Quang cảnh các quan coi thi ở Huế năm 1900. (Ảnh: Internet)
Phố cặp bờ sông ở Chợ Lớn năm 1900 – kênh Tàu Hủ bên phải. (Ảnh: Internet)
Các sĩ tử đi vào trường thi Nam Định (năm 1897). (Ảnh: Internet)
Rước vua Duy Tân trong lễ đăng quang năm 1907 (vua mới 7 tuổi). (Ảnh: Internet)

Tội ăn cắp bị xử đánh đòn, ảnh chụp trong khoảng 1870 đến 1890. (Ảnh: Internet)
Các quan Tân Khoa được ban mũ áo để vinh quy bái tổ ở trường thi Nam Định khoảng 1890. (Ảnh: Internet)
Các quan lạy mừng vua Hàm Nghi. (Ảnh: Internet)
Chợ Lớn Saigon năm 1866, lúc này còn hoang sơ như một vùng quê. (Ảnh: Internet) 

Saigon, Chợ Lớn năm 1888, lúc này thuyền buôn của người Hoa đã tấp nập. (Ảnh: Internet)
Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn năm 1879, lúc này chưa có 2 tháp chuông phía trên (theo mô-típ của nhà thờ Đức Bà ở Paris). (Ảnh: Internet)
Đến năm 1990, hai tháp chuông được xây lên. Kiến trúc này được giữ cho đến ngày nay. (Ảnh: Internet)
Bắc kỳ, một thầy đồ đang dạy học – cuối thế kỷ 19. (Ảnh: Internet)
Một tài liệu cổ thời Pháp nghiên cứu vấn đề Giao Chỉ, hình vẽ xương bàn chân của một bé trai 12 tuổi. Bàn chân Giao Chỉ là đặc điểm người Việt bản địa. Số lượng người mang đặc điểm bàn chân này ngay từ xưa chỉ là số ít, không phải người An Nam nào cũng có bàn chân Giao Chỉ, cho đến nay thì còn rất hiếm…. “Giao Chỉ là người Nam di, ngón chân cái toạc ra, đứng thẳng hai bàn chân thì ngón chân cái giao vào nhau, cho nên gọi là Giao Chỉ (chỉ là ngón chân cái)”. (Ảnh: Internet)
Theo Tinh hoa

 Source: http://www.trithucmo.net/index.php/lich-su/hinh-anh-lich-su/item/391-23-buc-anh-hiem-ve-viet-nam-cach-day-hon-100-nam

Bộ ảnh màu cực hiếm về Việt Nam 

hơn 100 năm trước

Tác giả: Tâm Nghĩa (sưu tầm)

———————-
Ảnh màu hiếm có về Việt Nam hơn 100 năm trước
Đầu thế kỷ 20, Albert Kahn đã cử các nhiếp ảnh gia của mình tới hơn 50 quốc gia trên thế giới. Đội ngũ của ông đã thực hiện tổng cộng 72.000 bức ảnh, tạo thành bộ sưu tập lớn nhất từ trước tới nay trong giai đoạn “sơ sinh” của ảnh màu. Họ đã chụp những bức ảnh màu đầu tiên ở các quốc gia xa xôi đối với phương Tây thời đó, trong đó có Việt Nam. Là con người mơ mộng và có tư tưởng quốc tế hóa, ông chủ ngân hàng người Pháp Albert Kahn (1860 – 1940) tin rằng mình có thể tăng cường sự giao thoa văn hóa và hòa bình giữa các dân tộc qua nghệ thuật nhiếp ảnh.
Năm 1909, Kahn bắt đầu thực hiện dự án “kho ảnh về cuộc sống của con người trên trái đất” để ghi lại những hình ảnh từ nhiều địa điểm khác nhau trên thế giới bằng hệ thống chụp và xử lý ảnh bằng kính màu màu – phương pháp chụp ảnh màu đầu tiên trên thế giới.
Albert Kahn đã cử các nhiếp ảnh gia của mình tới hơn 50 quốc gia trên thế giới. Đội ngũ của ông đã thực hiện tổng cộng 72.000 bức ảnh, tạo thành bộ sưu tập lớn nhất từ trước tới nay trong giai đoạn “sơ sinh” của ảnh màu. Họ đã chụp những bức ảnh màu đầu tiên ở các quốc gia xa xôi đối với phương Tây thời đó, trong đó có Việt Nam.
Năm 1929, sự sụp đổ của phố Wall buộc Kahn phải ngừng dự án. Mặc dù ngân hàng bị phá sản sau cuộc Đại suy thoái nhưng bộ sưu tập của ông vẫn “đứng vững”. Ông qua đời năm 1940 và để lại cho thế giới một bộ sưu tập ảnh màu vô cùng quan trọng, một cuốn lịch sử sống động nhất về cuộc sống con người đầu thế kỷ 20.
Sau đây là một số hình ảnh về Việt Nam trong các năm 1914 – 1916 trong bộ sưu tập của Albert Kahn, được giới thiệu trên trang BELLE INDOCHINE của Pháp.
Họ đã chụp những bức ảnh màu đầu tiên ở các quốc gia xa xôi đối với phương Tây thời đó, trong đó có Việt Nam. Là con người mơ mộng và có tư tưởng quốc tế hóa, ông chủ ngân hàng người Pháp Albert Kahn (1860 – 1940) tin rằng mình có thể tăng cường sự giao thoa văn hóa và hòa bình giữa các dân tộc qua nghệ thuật nhiếp ảnh.
Năm 1929, sự sụp đổ của phố Wall buộc Kahn phải ngừng dự án. Mặc dù ngân hàng bị phá sản sau cuộc Đại suy thoái nhưng bộ sưu tập của ông vẫn “đứng vững”. Ông qua đời năm 1940 và để lại cho thế giới một bộ sưu tập ảnh màu vô cùng quan trọng, một cuốn lịch sử sống động nhất về cuộc sống con người đầu thế kỷ 20.
Sau đây là một số hình ảnh về Việt Nam trong các năm 1914 – 1916 trong bộ sưu tập của Albert Kahn, được giới thiệu trên trang BELLE INDOCHINE của Pháp.

Phố Tràng Tiền ở Hà Nội vào năm 1914 – 1915
Phố Paul Bert (năm 1914/1915), nay là phố Tràng Tiền, Hà Nội. Paul Bert là một nhà động vật học, sinh lý học, và chính trị gia người Pháp, ngoài đường Paul Bert thì tên ông còn được chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương dùng đặt tên một vườn hoa ở Hà Nội, vườn hoa Paul Bert (nay là vườn hoa Lý Thái Tổ).

Các vị quan trong phẩm phục nghi lễ ở ngoại vi Hà Nội, 1915.
Quan tổng đốc một tỉnh gần Hà Nội (1915). Ngày xưa đây là một chức quan của chế độ phong kiến trao cho viên quan đứng đầu một vùng hành chính gồm nhiều tỉnh thành. Ở Việt Nam, từ năm Tân Mão 1831, năm thứ 12 triều vua Minh Mạng, nhà vua chia Việt Nam thành 31 tỉnh, trong đó miền Bắc có 6 quan tổng đốc: Sơn Hưng Tuyên, Hà Ninh, Ninh Thái, Hải An, Định An, Lạng Bình.


Quan Thống sứ Bắc kỳ bên người vợ và 4 đứa con, 1915.
Quan Thống sứ Bắc kỳ bên người vợ và 4 đứa con, 1915.

Phố Hàng Thiếc ở Hà Nội năm 1915.
Eue des Ferblamctiers (phố Hàng Thiếc), Hà Nội, 1915. Nối từ cuối phố Hàng Bồ đến phố Hàng Nón, ngày nay phố này là nơi tập trung các nhà sản xuất những mặt hàng bằng tôn, kẽm, sắt tây và gương soi. Trước thời Pháp thuộc thì là nơi sản xuất và bày bán các loại hàng đúc bằng thiếc như cây đèn, cây nến, lư hương, ấm, khay đựng chén…

Cầu Paul Dummer (Long Biên), Hà Nội, 1915.
Cầu Long Biên là cây cầu thép đầu tiên bắc qua sông Hồng Hà Nội, ngày xưa vốn được đặt tên là Paul Doumer, theo tên của Quan Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer. Khởi công năm 1898 và hoàn thành năm 1902.

Thuyền trên vịnh Hạ Long, 1916.
Thuyền trên vịnh Hạ Long, 1916.

Hòn Gai năm 1915.
Hòn Gai năm 1915.

Sông Tam Bạc, Hải Phòng, 1915
Sông Tam Bạc, Hải Phòng, 1915

Thuyền bè trên sông Hồng, gần cầu Paul Doumer (Long Biên), Hà Nội năm 1915.
Thuyền bè trên sông Hồng, gần cầu Paul Doumer (Long Biên), Hà Nội năm 1915.

Gánh hàng chuối bên bến sông Hồng, Hà Nội 1915

Phố Hàng Gai, Hà Nội 1915.
Phố Hàng Gai, Tết Trung thu 1915. Một phần con phố hồi cuối thế kỷ 19 có tên là phố Hàng Tiện: có những cửa hàng nhỏ, thợ vừa tiện vừa bán những đồ thờ, mâm bồng, đèn nến, ống hương, đài rượu, khuôn ván, mõ gỗ… Họ tiện cả những thứ nói trên nhưng cỡ nhỏ bé để trẻ con chơi.

Hai người đàn ông hút thuốc phiện, 1915.
Hai người đàn ông hút thuốc phiện, 1915.

Một con thuyền của người Hoa kiều, 1915.
Một con thuyền của người Hoa kiều, 1915.

Cô gái người Hoa hút thuốc phiện, 1915.
Cô gái người Hoa hút thuốc phiện, 1915.

Vịnh Hạ Long, 1915.
Vịnh Hạ Long, 1915.

Một bà đồng, 1915
Một bà đồng, 1915

Một ông đồ bán chữ ở Hà Nội, 1915.
Thầy đồ viết câu đối để bán. Hà Nội 1915. Xin chữ thầy đồ ngày tết là truyền thống dân gian từ xưa, khi đó đa phần không biết chữ nên mới có phong tục thờ chữ trong nhà để mơ ước con cháu sau này được học hành, làm ăn phát đạt. Sau này thì nó đơn giản là một phong tục với mong muốn mang lại may mắn, bình an cho gia đình.

Những người bán gạo, 1914 – 1915.
Những người bán gạo, 1914 – 1915

Những con thuyền gần một mỏ đồng, 1915.
Những con thuyền gần mộ mỏ đồng, 1915. Bên cạnh than, các mỏ đồng, thiếc, kẽm, sắt… đều được bổ sung thêm vốn, nhân công và đẩy mạnh tiến độ khai thác, sản lượng tăng gấp nhiều lần trước chiến tranh.

Chợ Bắc Lệ, Lạng Sơn, 1915.
Chợ Bắc Lệ, Lạng Sơn, 1915

Làng Nà Chạm ở Yên Bái, gần biên giới với Trung Quốc.
Vùng biên giới Trung Quốc, làng Na-Cham năm 1915 (ngày nay là thị trấn Na Sầm thuộc huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn). Thị trấn Na Sầm có diện tích 1,5 km², dân số năm 1999 là 3299 người. người ta hầu như không dùng tiền mặt, nếu có thì chủ yếu là tiền lẻ. Ở đây có chợ Na Sầm, đa phần hàng hoá được mua bán bằng cách trao đổi.

Một ngôi chùa trên đường đến Tam Đảo, 4/1916.
Một ngôi chùa trên đường đến Tam Đảo, 4/1916

Các hương chức gần Hà Nội.
Các hương chức gần Hà Nội
Mỏ than ở Hòn Gai, 1921. Ngày xưa dù là kẻ thắng trận trong Thế chiến II nhưng Pháp chịu nhiều tổn thất nặng nề về kinh tế và là con nợ lớn của Mỹ. Để bù đắp chiến phí, Pháp càng tăng cường mạnh mẽ việc khai thác thuộc địa, nhất là Đông Dương vì nơi đây vốn là một vùng đất giàu có về khoáng sản và nông nghiệp. Đặc biệt than luôn đứng đầu trong số các khoáng sản được khai thác ở Việt Nam

Mỏ than Hòn Gai, 1915.
Một gia đình khá giả tại Đông Dương thuộc Pháp năm 1915

—————
Source: http://www.trithucmo.net/index.php/lich-su/hinh-anh-lich-su/item/93-bo-anh-mau-cuc-hiem-ve-viet-nam-hon-100

Sunday, July 30, 2017

Cuộc gặp kỳ lạ giữa Khổng và Lão

image
Hơn hai ngàn năm trước có cuộc gặp kỳ lạ giữa Khổng và Lão.

Wednesday, November 23, 2016

ĐỪNG ẢO TƯỞNG

Vào dịp cuối năm, Lu-xi-phe triệu tập đại hội đồng quỷ sứ để kiểm điểm tình hình hoạt động suốt năm qua.   Quỷ già, quỷ cái, quỷ con đều họp mặt đông đủ và báo cáo cho Quỷ Vương Lu-xi-phe biết tình hình cám dỗ của toàn bầy quỷ sứ.   Nói chung, hoạt động cám dỗ không đạt kết quả như chỉ tiêu đã đề ra và tỉ số người phải xuống hoả ngục xem ra không gia tăng đáng kể.   Vì thế, khi bước qua phần hai của chương trình thảo luận, Quỷ Vương Lu-xi-phe kêu gọi hội đồng quỷ hãy đề ra những chiêu thức cám dỗ hữu hiệu hơn, liệu sao để lôi kéo được nhiều linh hồn sa hoả ngục hơn.

Saturday, November 5, 2016


Ở trong tiếng Việt, các tôn giáo được gọi là “đạo” hoặc là “giáo” (thí dụ đạo Phật hoặc Phật giáo); vì thế có người gọi là “Kitô giáo” có người gọi là “đạo Kitô”. Từ nào chính xác hơn? 

Muốn trả lời cho chính xác, thiết tưởng phải sưu tầm lịch sử văn hoá Á châu, để xem hai từ “đạo” và “giáo” có nghĩa gì, và có trùng nhau hay không. Trong nguyên ngữ Hán Việt, “đạo” là con đường, còn “giáo” là lời dạy dỗ. Hai từ này đôi khi liên kết với nhau (chẳng hạn chúng ta nói đến “đạo lý” hay “giáo lý”), nhưng có khi một “đạo” không phải là “giáo” (chẳng hạn như chúng ta nói đến “đạo làm người”). Tôn giáo được coi như là một “đạo”, theo nghĩa là nó chỉ cho ta thấy một con đường, một hướng đi, để đạt đến một mục tiêu tối hậu. Điều này khá rõ nơi đạo Phật, với “bát chánh đạo” (tám con đường chân chính) để đạt được sự giải thoát. Tuy nhiên, từ “Đạo” ở trong sách Đạo đức kinh lại được hiểu theo nghĩa khác: Đạo là nguyên uỷ của vạn vật. Dù sao, thiết tưởng thay vì phân tích ý nghĩa của các hạn từ “đạo” và “giáo” bên Đông phương, chúng ta hãy đặt vấn đề cách khác. Nói đến “Kitô giáo” thì chúng ta nghĩ tới các giáo thuyết, giáo lý, đạo lý của Chúa Kitô. Thế còn nói đến “đạo Kitô” thì chúng ta sẽ nghĩ đến cái gì?

Friday, September 16, 2016

LÀM TÔI CHO CHÚA
Mạnh Thường Quân nuôi hơn 3000 thực khách nên chi phí rất nhiều, bổng lộc không đủ chi dụng, phải dựa vào tiền cho thuê đất đai ở Bích Thành do vua phong, nhưng có một năm không thu được tiền về, mới cử Phùng Hoan đi đòi.  Trước khi đi Phùng Hoan hỏi rằng: “Khi tôi trở về, ông có muốn tôi đem quà gì về không?”  Mạnh Thường Quân ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói: “Thì ông cứ xem ở đây thiếu thứ gì thì đem về,” Phùng Hoan đến Bích Thành mới biết năm đó bị thiên tai mất mùa, nông dân thiếu lương thực ăn khổ cực hết chỗ nói.  Phùng Hoan bèn tập họp họ lại, rồi đốt hết mọi giấy tờ vay nợ, khiến mọi người vô cùng cảm động. Phùng Hoan trở về nói lại đúng sự thực. Mạnh Thường Quân nổi giận: “Trước khi đi ông nói sẽ đem quà về, nay ở đâu?”  Phùng Hoan đáp: “Ông đã nói ở đây thiếu gì thì mua về, nhưng tôi thấy ở đây chẳng thiếu gì cả, chỉ thiếu có tình nghĩa mà thôi, nay tôi đã đem tình nghĩa về đây."  Mạnh Thường Quân nghe vậy khóc cười không được, liền phất tay áo đi ra.
Hai năm sau, Tề Dẫn Vương tin nghe lời bịa đặt của hai nước Tần, Sở, rất lo lắng Mạnh Thường Quân công cao lấn chúa, gây uy hiếp tới vương vị của mình, bèn thu ấn tể tướng của Mạnh Thường Quân.  Các môn khách thấy vậy, đều theo nhau bỏ đi, duy chỉ có Phùng Hoan là còn ở lại.  Mạnh Thường Quân đành trở về cố cư ở Bích Thành.  Dân trong thành nghe tin ông trở về, liền dắt già cõng trẻ ra ngoài 100 dặm để đón.  Mạnh Thường Quân nhìn thấy cảnh tượng này, rơm rớm nước mắt nói với Phùng Hoan: "Tình nghĩa mà ông đã đem cho tôi, nay tôi đã thực sự cảm nhận được rồi".

Monday, August 1, 2016

Những Sự Thật Thú Vị Về Vatican Khiến Bạn Bất Ngờ

Ai đã đọc "Thiên thần và ác quỷ" của Dan Brown hẳn không thể nào quên quốc gia Vatican đầy bí mật thú vị.
 
Vatican là quốc gia có chủ quyền nhỏ nhất thế giới, với diện tích 0,44 km2, nằm trong Italy. Quốc gia này chỉ có các con phố mà không có đường cao tốc.

WORLD WORLD