Monday, March 25, 2024

GIU-ĐA, THẬT SỰ NGƯỜI LÀ AI?

 


Xưa kia, cái khung cảnh và căn phòng được Ðức Giêsu và các Tông đồ chọn làm nơi ăn bữa tối cuối cùng, thật sự là một nơi của bữa tiệc biệt ly, của sự tang tóc buồn sầu: Bên ngoài màn trời đầy u ám, tối đen và lạnh giá!  Nhưng hôm nay trong ngôi thánh đường này, nơi chúng ta đang cùng nhau cử hành bữa Tiệc Ly, lại sáng rực và ấm cúng.  Tuy nhiên, một sự cô quạnh băng giá nào đó đang len lỏi vào trong tâm hồn chúng ta mà sự thô bạo nặng nề của nó đã từng đè lên trái tim cũng như đôi vai của Chúa.  Ðó là khi xuất hiện tên tuổi của một người mà trong các kinh nguyện phụng vụ chúng ta đọc khi cử hành việc tưởng niệm bữa Tiệc Ly của Chúa, cũng như trong bài Tin Mừng.  Một tên gọi mà mỗi lần nghe nhắc đến lại gây ra một cảm giác khinh rẽ và tiêu cực: Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, kẻ phản bội!  Thật bất hạnh cho Giu-đa!

Có lẽ nhiều người sẽ ngạc nhiên khi nghe tôi đề cập đến người môn đệ bất hạnh này, người mà trong một lúc nào đó đã không còn có thể giữ lòng trung thành với Sư Phụ mình được nữa.  Dĩ nhiên không một ai có thể biết được rõ ràng những gì đã diễn biến trong nội tâm và ý nghĩ của Giu-Ða khi ông ta có toan tính như thế.  Và chúng ta cũng không muốn đi tìm một lời cắt nghĩa hay một giải đáp về vấn đề đó!  Nhưng trong buổi chiều hôm nay, tôi có ý nghĩ muốn xin anh chị em một chút thông cảm cho “người anh em Giu-đa” của chúng ta.  Trước hết, khi chúng ta gọi Giu-đa là người anh em của chúng ta, chúng ta đã dùng chính ngôn từ của Chúa.  Đúng vậy, buổi tối trong vườn Cây Dầu, khi Giu-đa hôn phản bội Thầy mình, thì Ðức Giêsu đã nói với Giu-đa những lời đầy ân tình mà chúng ta không thể quên được: “Bạn ơi, bạn dùng nụ hôn để phản bội Con Người sao?”

“Bạn ơi!”  Tiếng này nói lên một sự âu yếm và tha thiết của tình yêu, của lòng thương xót và quảng đại của Chúa.  Tiếng đó cũng làm cho anh chị em hiểu được tại sao bây giờ và ở đây tôi lại gọi Giu-đa theo như ngôn ngữ của Chúa là người anh em.  Chúng ta đã biết rằng trong Bữa Tiệc Ly Ðức Giêsu đã nói: “Thầy không gọi anh em là tôi tớ, nhưng là bạn hữu.”  Các Tông đồ đã trở thành những người bạn thân thiết của Chúa, dù họ tốt hay xấu, quảng đại hay nhỏ nhoi, trung thành hay phản bội, v.v… tất cả họ luôn luôn là những người bạn của Chúa.

Chúng ta có thể phản bội lại tình bạn của Ðức Kitô.  Nhưng Người thì không bao giờ phản bội chúng ta, là những người bạn của Người.  Kinh thánh đã từng nói: “Dù cho cha mẹ con có bỏ rơi con đi nữa, thì Thiên Chúa cũng không hề bỏ rơi con” (Tv 27,10).  Cả khi chúng ta không xứng đáng với sự trung thành của Chúa, cả khi chúng ta phủ nhận Người, chối từ Người, thì trước mắt và trong trái tim Chúa chúng ta vẫn luôn luôn là những bạn hữu của người.  Bởi thế, Giu-đa vẫn là người bạn của Chúa cả ngay trong lúc ông ta phản bội Người bằng một nụ hôn!

Tôi đã tự hỏi: Làm sao một vị Tông đồ của Chúa lại có thể kết thúc như một kẻ phản bội?

Có ai hiểu được những bí ẩn của sự ác không?  Có ai có thể nói cho chúng ta hay là làm thế nào mà chúng ta đã trở thành độc ác?  Chúng ta đừng quên rằng mỗi người trong chúng ta vào một lúc nào đó đã khám phá thấy rằng sự ác từng đồn trú, từng nằm vùng trong trái tim và trong ý nghĩ của ta.  Chúng ta đã nhìn thấy sự ác đó triển nở, lớn phồng lên mỗi ngày.  Chúng ta không hề biết được tại sao chúng ta lại trao phó mình cho sự ác.  Và một lúc nào đó sự dữ sẽ nổ tung lên.  Từ đâu phát sinh ra sự ác?  Ai đã sản xuất ra sự ác?  Ai đã cướp mất niềm tin của chúng ta?  Ai đã cướp mất khả năng của chúng ta để tin tưởng vào sự thiện và để yêu mến sự thiện?

Nhưng hiện tượng “Sự ác trong chúng ta” không còn là một điều bí ẩn nữa, cũng như sự phản bội của Giu-đa không còn là một bí ẩn nữa.  Mọi người đều biết điều đó.  Bất cứ lúc nào một vị Tông đồ cũng có thể trở thành kẻ phản bội được.  Bất cứ lúc nào một Kitô hữu cũng có thể trở thành kẻ chối đạo.  Bất cứ lúc nào một tín hữu dù đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy cũng có thể bội hứa với Ðức Tin của mình.  Bất cứ lúc nào một người đã được ghi dấu trên mình nhân danh Thiên Chúa ba Ngôi, cũng có thể xúc phạm đến Thánh Danh đó.  Vậy đâu là nguyên nhân của những thay đổi mang tính cách phản bội như thế?

Sự cám dỗ đã được bắt đầu với tiền bạc, với những ngón tay biết đếm tiền.  Ðó là một cái vòng luẩn quẩn đáng buồn của loài người, xưa kia cung như ngày nay, mà một khi đã rơi vào trong đó người ta rất khó lòng thoát ra được.  Bởi lẽ tiền bạc trong túi những người đó đã trở nên quá toàn năng và độc đoán.  “Các ông cho tôi bao nhiêu, nếu tôi nộp Người cho các ông?  Và họ đã chỉ trả cho y 30 đồng bạc” (x. Mt 26,14-16).

Chỉ cần 30 đồng bạc thôi cũng đã vừa giá cho Giu-đa để bán đổi người bạn, vị Sư Phụ của mình, Ðấng đã kén chọn ông ta trong muôn một và đã đặt làm Tông Ðồ; Ðấng ban cho chúng ta được làm con cái Thiên Chúa, đã cho chúng ta có được nhân phẩm, sự tự do và những sự cao cả của những kẻ làm con Thiên Chúa.  Vâng, tiền bạc, địa vị, danh dự, v.v… tất cả đều phát xuất từ Thiên Chúa, đều là ân huệ Thiên Chúa ban, nhưng chúng lại được nhiều người trọng vọng và được đánh giá cao hơn cả niềm tin của họ, hơn cả lòng trông cậy phó thác của họ vào Thiên Chúa.

Tuy nhiên, khi Giu-đa nghe lọt tai tiếng gào thét của đám đông: “Ðóng đinh nó vào thập giá!  Ðóng đinh nó vào thập giá! Khi Giu-đa nhìn thấy Thầy mình bị hành hạ và bị lãnh án tử trong dinh Phi-la-tô, bấy giờ tâm hồn ông ta bắt đầu xúc động, lòng một kẻ phản bội bắt đầu đâm ra quá xúc động và ông ta đã ném trả lại 30 đồng bạc giá máu của Ðấng vô tội xuống đất.  Những đồng bạc đó giờ đây đối với ông ta không còn giá trị gì nữa.  Ông ta vô cùng hối hận.  Nhưng tiếc thay, mọi sự đã quá muộn!

Tội nghiệp cho Giu-đa!  Thật tội nghiệp cho người anh em Giu-đa!  Bởi vì cái tội nặng nhất không phải là hành động phản bội và bán đổi Ðức Kitô của ông ta, nhưng là sự thất vọng, sự nghi ngờ lòng thương xót và sự tha thứ của Thiên Chúa nơi ông ta!  Vì chính Phêrô cũng đã chối Chúa và tất cả các Tông đồ cũng đều đã bỏ Chúa, nhưng tất cả đã ăn năn hối cải trở về với Thầy mình và Ðức Kitô đã tha thứ cho tất cả họ và đồng thời đã tiếp nhận họ với tất cả sự tin tưởng.

Sau cùng, tôi lại muốn nhắc qua đến “Giu-đa” trong chính con người tôi, và cả đến “Giu-đa” có lẽ ở nơi các bạn nữa, đồng thời xin các bạn hãy cho tôi được cầu xin Ðức Giêsu ban cho tôi ơn phục sinh: Ðược gọi chính tôi là “bạn” trong chiều nay, sớm mai và trong đêm thứ bảy, đêm Phục Sinh.  Bởi vì tiếng đó là ngôn ngữ của Phục Sinh!  Tiếng đó được nói ra cho Giu-đa khốn khổ cũng như cho chính tôi, và cũng rất có thể cho một Giu-đa khốn khổ trong các bạn.  Bởi vì đó là cả một niêm vui mừng trọng đại, khi Ðức Giêsu không muốn để chúng ta rơi vào cảnh bối rối lo âu sợ hãi, nhưng đã tha thứ cho chúng ta hết mọi tội lỗi.  Chúng ta luôn nhớ rằng, hôm nay cũng như trong lúc chúng ta yếu đuối sa ngã, chúng ta luôn luôn là những người bạn của Chúa, như Giu-đa là người bạn muôn đời của Chúa!

 

LM Nguyễn Hữu Thy

Sunday, March 24, 2024

GIAO ƯỚC MỚI

Theo nghĩa thông thường, “Giao ước” là sự cam kết, giao kèo giữa hai cá nhân hoặc hai tập thể.  Mỗi bên đều có bổn phận tuân giữ những quy định được ghi rõ trong cam kết này, và bên nào vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm khắc.

Trong truyền thống Kinh Thánh, “Giao ước” là hiệp định ký kết bằng cách cả hai bên phải đi vào giữa hai phần những con vật được sát tế và xẻ đôi.  Giao ước đối với toàn dân Ít-ra-en là Giao ước cũ (còn gọi là Cựu ước), được thực hiện tại núi Sinai qua việc ông Môi-sen rảy máu tế vật lên bàn thờ và trên dân.  Giao ước giữa Thiên Chúa và dân của Chúa không chỉ là kết quả của sự thoả thuận của hai bên, mà còn là đặc ân vô điều kiện của Thiên Chúa (Từ điển Công giáo, Tr. 334).

Luật Giao ước là niềm tự hào của người Do Thái.  Khi so sánh với các dân xung quanh, ông Môi-sen đã nói: “Phải, có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, ở gần chúng ta, mỗi khi chúng ta kêu cầu Người?  Có dân tộc vĩ đại nào được những thánh chỉ và quyết định công minh, như tất cả Lề Luật mà hôm nay tôi đưa ra trước mặt anh em?” (Đnl 4,8).

Nếu Thiên Chúa luôn trung thành giữ lời giao ước, thì con người lại hay vi phạm những điều đã cam kết.  Tội lỗi và kiêu ngạo đã phá vỡ mối tương quan thân tình giữa Thiên Chúa và con người.  Con người đã khước từ tình thương của Thiên Chúa và quay lưng chống lại Ngài.  Vì vậy mà Thiên Chúa phải thiết lập một Giao ước mới.  Giao ước ấy được ký kết, không còn bằng máu chiên máu bò, nhưng bằng máu của Con Một Thiên Chúa, là Đức Giê-su Ki-tô.  Ngôn sứ Giê-rê-mi-a (Bài đọc I) đã loan báo một Giao ước mới.  Giao ước này không giống như giao ước Chúa đã lập với các bậc tiền nhân của người Do Thái.  Giao ước mới sẽ biến đổi lòng dạ con người, giúp họ canh tân bản thân để nên hoàn thiện.

Trong bữa tiệc cuối cùng với các môn đệ, Chúa Giê-su đã lập phép Thánh Thể.  Người trao cho họ chén rượu và nói: “Đây là máu Giao ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28). Tác giả Lu-ca còn nói rõ hơn: “Chén này là Giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22,20; 1 Cr 11,25).

Tại sao Thiên Chúa không dùng cách khác để cứu chuộc con người, mà lại dùng cái chết đau thương của Con Một Ngài?  Nhiều thế hệ, quá khứ cũng như hiện tại, đã đặt ra câu hỏi này.  Thực ra, Thiên Chúa có thể cứu độ con người bằng muôn vàn cách khác nhau, cũng như khi vũ trụ còn là hư vô, Chúa đã phán một lời, mọi sự được tác thành.  Chỉ có câu trả lời “do bởi tình thương” mới có thể làm thỏa mãn vấn nạn trên.  Vâng, như người mẹ vất vả mang thai và sinh con và nuôi dưỡng nên người, Thiên Chúa cũng thể hiện tình thương của Ngài bằng cái chết đau thương của Con Một chí ái.  Tuy vậy, nếu Đức Giê-su đã chết trên thập giá, thì ngôi mộ không phải là nơi cầm giữ Người mãi mãi.  Chúa đã sống lại vinh quang.  Hình ảnh hạt lúa gieo vào lòng đất, chấp nhận thối đi để nảy mầm đơm hạt mà chính Chúa Giê-su đã sử dụng khẳng định chân lý ấy.  Đức Giê-su thành Na-gia-rét là Hạt Giống vĩ đại, đã chấp nhận chết đi để sinh ra một dòng giống mới.  Từ cái chết của Người, một công trình tạo dựng mới đã được khởi sự, để rồi những ai sẵn sàng dìm mình trong sự chết của Đức Giê-su, sẽ được tái sinh và gia nhập Dân Thánh, Dân của Giao ước mới.  Cái chết của Chúa Giê-su trên thập giá đã xóa bỏ bản án nguyên tội ở khởi đầu lịch sử, thiết lập một trang mới trong mối tương quan giữa Thiên Chúa và nhân loại.  Thánh Phao-lô nói với chúng ta (Bài đọc II): Đức Giê-su đã mang lấy trên bản thân mình muôn vàn đau khổ.  Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người.  Trong Mùa Chay, chúng ta ôn lại những chặng đường thập giá của Chúa Giê-su.  Hôm nay, những chặng đường thập giá cũng đang đè nặng trên thân phận con người, ở nhiều hình thức và hoàn cảnh khác nhau.  Ý thức có Chúa cùng vác với ta, thập giá cuộc đời sẽ bớt nghiệt ngã hơn.  Xác tín vào sự hồi sinh của hạt lúa, chúng ta sẽ thêm niềm hy vọng giữa những tăm tối của cuộc đời.

Như cây đến mùa thay lá, như vườn nho đến ngày cắt tỉa, mùa Chay giúp chúng ta buông bỏ những gì cản trở chúng ta trên con đường theo Chúa và trong bổn phận đối với tha nhân.  Những thực hành đạo đức của mùa Chay như chay tịnh, cầu nguyện và bác ái sẽ giúp cho con người cũ nơi chúng ta chết đi, trở thành con người của Giao ước mới, mặc lấy Chúa Giê-su Phục sinh.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

 

Friday, March 22, 2024

ÔNG THÁNH DISMAS, người TRỘM LÀNH

 


Có lẽ ít người biết ngày 25-3 là lễ Thánh Dismas (cũng viết là Dimas), trùng với lễ Truyền Tin. Thánh Dismas là ai? Đó là tướng cướp cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu trên Đồi Sọ, người được nhắc tới trong Phúc Âm theo Thánh Luca, và là người đã xin Chúa Giêsu nhớ đến mình khi Ngài về Nước của Ngài (Thiên đàng), trái ngược với tên trộm cùng bị đóng đinh nhưng không ăn năn sám hối, tên này lại còn cả gan thách thức Chúa Giêsu nữa. Gọi là tên trộm cho “dễ nghe” thôi, thật ra phải nói là tên cướp mới đúng.

Có hai người cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu, một bên phải và một bên trái (Mt 27:38, Mc 15:27-28, 32, Lc 23:33, Ga 19:18), điều mà Thánh sử Mác-cô nói là ứng nghiệm lời của ngôn sứ Isaia (Is 53:12). Theo Thánh sử Mát-thêu và Mác-cô, cả hai tên trộm đều mỉa mai Chúa Giêsu (Mt 27:44, Mc 15:32).

Tuy nhiên, Thánh sử Luca cho biết rõ: “Một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người: ‘Ông không phải là Đấng Kitô sao? Hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với!’. Nhưng tên kia mắng nó: ‘Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!’. Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: ‘Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!’. Và Người nói với anh ta: ‘Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23:39-43). Chắc hẳn không ai sướng như tử tội này.

Thánh Augustinô không nói tên người trộm lành, nhưng cho rằng có thể người trộm lành đã được rửa tội vào một lúc nào đó. Theo truyền thống, người trộm lành bị đóng đinh trên cây thập tự ở bên tay phải của Chúa Giêsu, còn người kia ở bên tay trái. Vì thế, sự miêu tả về cuộc đóng đinh thường cho thấy đầu Chúa Giêsu ngả sang bên phải, cho thấy Ngài chấp nhận người trộm lành. Theo Giáo hội Chính thống Nga, thập tự thường được làm bằng ba thanh gỗ: thanh bên trên ghi “bảng chữ” (titulus), đó là tấm bảng ghi chữ mà chính quan Phong-xi-ô Phi-la-tô đã viết và cho lính đóng phía trên đầu của Chúa Giêsu; thanh ngang dài hơn để đóng hai tay của Chúa Giêsu; và thanh bên dưới để đóng chân của Chúa Giêsu.

Theo Thánh Gioan Chrysostom, người trộm lành ở trong hoang địa để cướp của và giết người nên mới đáng tử hình trên thập tự. Theo Thánh GH Grêgôriô Cả, người trộm lành đã phạm tội máu, ngay cả máu của người anh em.

Sự trở lại của người trộm lành được dùng làm gương sáng về khoảnh khắc sám hối cần thiết để được hưởng ơn cứu độ qua Đức Kitô: nhận biết tội mình, ăn năn sám hối, chấp nhận Đức Kitô và hưởng sự sống đời đời. Hơn nữa, có sự tranh luận rằng Phép Rửa không cần thiết để được cứu độ vì người trộm lành đã không có cơ hội lãnh bí tích Thánh Tẩy. Tuy nhiên, người trộm lành đã được “rửa tội bằng máu”. Và ngày nay, chúng ta có thể gọi người trộm lành là Thánh Trộm Lành.

 Chỉ có Phúc Âm theo Thánh Luca mô tả một trong hai tên trộm sám hối, nhưng không hề nói tên gì. Về sau, người trộm lành vô danh đó được gọi là Dismas trong Phúc Âm theo Ni-cô-đê-mô (Gospel of Nicodemus), có từ thế kỷ IV. Tên gọi Dismas được phỏng theo âm của tiếng Hy-lạp, nghĩa là “hoàng hôn” hoặc “sự chết”. Tên của người trộm dữ là Gestas. Trong cuốn “Cuộc đời Người Trộm Lành” (Life of the Good Thief – Histoire Du Bon Larron, bản tiếng Pháp xuất bản năm 1868, bản tiếng Anh xuất bản năm 1882), của tác giả Jean Joseph Gaume. Thánh Augustinô nói rằng tên trộm này đã nói với Chúa Giêsu: “Ôi người con phúc lành nhất trong các người con, nếu có thời gian khi tôi nài xin lòng thương xót của Ngài, xin nhớ đến tôi và đừng quên những gì đã qua hôm nay”. Chân phước Anne Catherine Emmerich đã thấy Thánh Gia “mệt mỏi và không ai giúp đỡ”. Theo Thánh Augustinô và Thánh Phêrô Đamianô, Thánh Gia đã gặp mặt Dismas trong các trường hợp đó.

Ngụy kinh Arabic Infancy Gospel gọi hai tên trộm là Titus và Dumachus, rồi kể chuyện về cách Titus (tên trộm lành) đã ngăn cản các tên trộm khác không cướp Đức Maria và Đức Giuse trên đường trốn sang Ai-cập. Theo truyền thống Chính thống Nga, tên của người trộm lành là “Rakh” (tiếng Nga, nghĩa là Рах).

Sách Các Vị Tử Đạo của Rôma có nói tới tên trộm lành ở Giêrusalem, người này đã thú tội với Chúa Giêsu trên Thập giá nên xứng đáng được nghe Ngài xác nhận: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23:43).

Một số thành phố đã lấy tên người trộm lành, như TP San Dimas (Thánh Dimas) ở California (Hoa Kỳ). Cũng có những nhà thờ cũng dùng tên người trộm lành: Nhà thờ Người Trộm Lành ở Kingston (Ontario, Canada), Nhà thờ Thánh Dismas (Saint Dismas Church) ở Waukegan, Illinois, và Nhà thờ Thánh Trộm Lành Dimas (St. Dimas the Good Thief) ở Dannemora (New York, Hoa Kỳ).
---------------------
TRẦM THIÊN THU

Thursday, March 21, 2024

9 NGHỊCH LÝ TRONG CUỘC ĐỜI ĐỨC GIÊSU THEO THÁNH MARCÔ

Đọc và suy niệm Tin Mừng thánh Marcô, đặc biệt là bài Thương Khó, ta thấy cuộc đời Đức Giêsu có vài nghịch lý sau:

 

 1. Có ngày có lúc, có thời có buổi người ta tôn vinh Đức Giêsu là vua, là Đấng Mêsia…, nhưng cũng có ngày có lúc, có thời có buổi người ta đả đảo, kết án, đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá. Đó là đám đông dân chúng.

2. Có người suốt đời được Đức Giêsu tín nhiệm yêu thương, thế mà có ngày phản bội, cả gan bán nộp Thày mình lấy 30 đồng bạc.  Đó là Giuđa Iscariô.

3. Có người khi ở miền Césaré Philiphê thì tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa…, nhưng khi Đức Giêsu bị bắt thì ông lại chối bỏ không biết Ngài là ai trước mặt người đầy tớ gái.  Đó là tông đồ Simon- Phêrô.

 

4. Có những người được Đức Giêsu tuyển chọn, để cùng ăn cùng ở và cùng chia vui sẻ buồn với Ngài trong sứ vụ rao giảng Tin mừng, nhưng khi Đức Giêsu bị bắt, bị đánh đòn và phải vác thánh giá đến nơi hành hình, thì họ bỏ trốn chẳng còn một ai, chỉ có một người ngoại giáo, không quen biết, tên là Simêôn sẵn sàng ghé vai vác thâp giá đỡ Đức Giêsu và một vài người phụ nữ đạo đức theo Ngài lên đồi Sọ mà thôi.  Đó là các Tông đồ và môn đệ.

 

5. Lúc còn rao giảng Tin Mừng, thì Đức Giêsu ngăn cấm, không muốn cho một người nào tiết lộ Ngài là Con Thiên Chúa, nhưng khi ra trước tòa án Philatô, Đức Giêsu lại xác nhận mình là Con Thiên Chúa.

 

6. Đức Giêsu, Đấng vô tội, cả đời làm việc lành cứu người, thế mà lại bị người đồng hương của mình coi không bằng đứa trộm cướp giết người tên là Baraba.

 

7. Người Do Thái vốn ghét cay ghét đắng đế quốc Rôma ngoại giáo, thế mà chỉ vì không đồng quan điểm về giáo lý, về Lề Luật, về Đền Thờ, về Thiên Chúa, mà người Do Thái lại xuất hiện như những kẻ đứng lên bảo vệ đế quốc Rôma, sẵn sàng trao nộp Đức Giêsu cho quan tổng trấn Philatô.

 

8. Tổng trấn Philatô người đại diện cho công lý, trả lại công bằng cho người vô tội, mặc dù biết Đức Giêsu vô tội, nhưng vì sợ những kẻ gian tham độc ác và sợ mất chức quyền, nên đã cho đánh đòn và đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá như những tên tử tội.

 

9. Lúc còn tại thế, không một phàm nhân nào nhận biết và tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, ngoại trừ Phêrô, thế mà khi Ngài tắt thở trên thập giá, có người ngoại giáo lại nhìn nhận và tuyên xưng Đức Giêsu quả thật là Con Thiên Chúa.  Đó là viên sĩ quan quân đội Rô-ma.

…………….

Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đã vui lòng chấp nhận những nghịch lý trong cuộc đời cho đến chết trên cậy thập giá, để trở nên bài học và gương mẫu cho nhân loại.  Xin cho mỗi người chúng con biết hạn chế tạo nên những nghịch cảnh trong đời và nếu có gặp phải những nghịch cảnh, thì xin cho chúng con biết vui lòng chấp nhận.  Amen!

 
Lm Giuse Nguyễn Văn Hữu

 

WORLD WORLD