Saturday, December 9, 2023

LORETO VÀ PHÉP LẠ THIÊN THẦN CHUYỂN NHÀ

 Đức Bà Loreto, được Giáo Hội mừng lễ vào ngày 10-12, là Đức Bà phù hộ các phi công, các lữ khách đi máy bay... và của cả các công nhân chuyển nhà nữa.  Nhưng tại sao lại có sự bảo trợ này?

 Gần thánh phố Ancône, trong vùng Marches nước Ý, có một trong những ngôi đền thờ được tôn kính nhiều nhất trong thế giới Công giáo: đền thờ Đức Bà Loreto.

 Câu chuyện về nơi này thật lạ lùng và có thật, tuy dù cũng có đôi chút tô điểm cho thêm phần dễ thương.

 Tất cả khởi sự từ đầu thế kỷ 14, khi Rôma được tin người ta vừa khai sinh thêm một cuộc hành hương Đức Mẹ, ở một nơi gọi là Loreto, "một cánh rừng nguyệt quế nhỏ;" nơi đây người ta tôn sùng một tượng Đức Mẹ đen cổ kính có nguồn gốc phương Đông được tạc từ gỗ thông tuyết và một ảnh thánh Đức Mẹ được cho là do thánh Luca vẽ.

  Tất cả khởi sự từ đầu thế kỷ 14, khi Rôma được tin người ta vừa khai sinh thêm một cuộc hành hương Đức Mẹ, ở một nơi gọi là Loreto, "một cánh rừng nguyệt quế nhỏ;" nơi đây người ta tôn sùng một tượng Đức Mẹ đen cổ kính có nguồn gốc phương Đông được tạc từ gỗ thông tuyết và một ảnh thánh Đức Mẹ được

 

Đến đây thì mọi chuyện khá bình thường: những đền thờ như vậy thì rất nhiều trong thế giới Kitô giáo nên người ta không thắc mắc lắm về tính lịch sử của những thánh tích được tôn sùng - sự sùng kính của khách hành hương thường phủ một lớp ân điển lên những vật được trưng bày để tôn kính.

Tuy nhiên sự độc đáo của địa điểm này không nằm ở nơi ảnh thánh và bức tượng nói trên, mà ở nơi ngôi nhà đặt ảnh tượng đó.  Nếu tin những gì người ta nói tại chỗ thì, ngôi nhà nguyện nhỏ vừa kể thật ra chính là ngôi nhà ở Nazarét, nơi thiên thần Gabriel hiện ra với Đức Maria - là nơi ơn cứu độ nhân loại được thể hiện...  Đó là lý do tại sao các tín hữu đã tuôn đến và sờ vào những viên đá linh thánh đó một cách thành kính, trào nước mắt xúc động vì còn được đến tận nơi.

 Một nỗi đau không thể tưởng tượng

 Đến tận nơi ư?  Đúng vậy, vì từ năm 1291 với sự thất thủ của thành Saint-Jean d'Acre - cứ điểm cuối cùng của vương quốc La tinh tại Giêrusalem, bị phe đạo Hồi chiếm giữ - Miền Đất Thánh gần như đóng cửa hoàn toàn với khách hành hương và hối nhân.  Nhà cầm quyền Hồi giáo chỉ cấp giấy phép nhỏ giọt để vào những địa điểm thánh và những Kitô hữu hiếm hoi dám bước vào đây lại gặp vô vàn nguy hiểm.

 Chúng ta ngày nay quá thiếu sốt sắng nên khó đo lường được sự thiếu thốn như vậy nặng nề ra sao đối với những bậc tiền bối của chúng ta.  Không còn có hy vọng đến thăm xứ Galilê để cầu nguyện trong căn phòng mà Đức Maria đã thưa lời Fiat (Xin Vâng), không được theo dấu chân Chúa Giêsu, không được quỳ trong vương cung thánh đường Bêlem trên cái ngôi sao đánh dấu nơi đặt máng cỏ, không được tắm trên sông Giođan, không bao giờ được nhìn ngắm Giêrusalem, không được canh thức trong vườn Giêtsêmani, không được vừa đi vừa cầu nguyện vừa khóc trên con đường khổ nạn, không được leo núi Golgotha, không được ôm hôn hòn đá của ngôi mộ trống... mà biết rằng tất cả đều bị giao cho kẻ ngoại đạo, đó là một nỗi đau mà chúng ta không thể hình dung nổi.

 Giáo Hội xót xa khi biết điều đó, nhưng làm gì được bây giờ?  Thánh chiến thì không còn hợp thời.  Do đó, để xoa dịu cái tang của giới Công giáo, Hội Thánh đưa ra những giải pháp khác cho các tín hữu đang than khóc.  Trước hết là hướng họ về điều cốt yếu: sùng kính Bí tích Thánh Thể.  Không cần thiết phải đi qua đầu kia của thế giới để tìm thấy Chúa Kitô vì Người có mặt hằng ngày trên bàn thờ và trong nhà tạm, dù là ở một nhà nguyện nhỏ bé nhất.  Chính trong bối cảnh đó mà lòng tôn kính Mầu Nhiệm Thánh Thể phát triển chưa từng thấy.

 Thánh tích và đền thờ thay thế

 Một cách khác là khiến người ta chú trọng đến những thánh tích của cuộc Khổ Nạn - có rất nhiều và đôi khi vô giá - như một mảnh của cây Thánh Giá mà nữ hoàng Radegonde đã có được cho tu viện của bà tại Poitiers (Pháp), mão gai được vua Thánh Louis mua, hay Khăn Liệm Chúa được trưng bày ở Lirey vùng Champagne (Pháp), hay những mảnh của máng cỏ đặt tại vương cung thánh đường Đức Bà Cả ở Rôma; những đồ vật này được đưa tới Châu Âu theo dòng thời gian, chủ yếu là đến Pháp vì các vua dòng họ Capet rất xem trọng chúng.  Vì không đến Miền Đất Thánh được nữa, nên đi viếng những chứng tích của mầu nhiệm Nhập Thể,  của cuộc Thương Khó và cuộc Phục Sinh của Chúa được xem như tương đương.

 Cũng vậy đối với việc cố gắng tìm đến những linh địa khiêm tốn hơn nhiều với chỉ một cục sỏi nhặt được ở Palestine, thậm chí chỉ ít bụi từ nơi này...  Có những lãnh chúa hay những giám mục khá giả không ngần ngại xây dựng những đền thờ thay thế - được cho là tái hiện cách chân thật ít nhiều – những kiến trúc ở Miền Đất Thánh, như bản sao của Mộ Thánh ở Neuvy-Saint-Sépulcre, vùng Berry (Pháp), hay tái tạo ở Ý những nơi đáng chú ý nhất của Giêrusalem lúc đó.

 Phải chăng đền thờ Loreto chỉ đơn giản là một trong những cách bắt chước mang tính đạo đức sùng mộ như vậy?  Hay, như những người sùng kính nơi đó tin tưởng, đây đúng là ngôi nhà ở Nazarét, được mang từ Palestine về, nhờ một phép lạ nào đấy?  Vấn đề này đã làm chảy không biết bao nhiêu mực.

 Một điều có thực: đền thờ đã mọc lên trên một thửa đất của gia đình De Angelis - một gia đình thương nhân và chủ tàu giàu có thành Ancône, đã làm giàu nhờ buôn bán giữa phương Đông và phương Tây, thời kỳ có mặt người Franc tại Palestine.  Cho rằng vương quốc La tinh sẽ tồn tại được ở Giêrusalem - điều này xem ra không phải là ý hay - nhà De Angelis đã đầu tư một phần vốn liếng vào bất động sản ở đây; có thể họ đã mua nhiều miếng đất ở Nazarét, trong đó có đất của ông bà Gioakim và Anna, cùng với đó là căn nhà của ông bà - căn nhà mà vào buổi sáng ngày Truyền Tin, thiên sứ Gabriel đã hiện ra với Đức Maria.

 Một ngôi nhà từ trời rơi xuống

 Người ta phản bác rằng, vào thời Chúa Kitô, những căn nhà địa phương chủ yếu là nhà hang, nghĩa là được đào trong đá, và mặt khác họ còn chỉ ra cho thấy căn nhà được coi là của Đức Maria ở Nazarét.  Tuy nhiên, có thể vào một lúc nào đó, căn nhà ấy đã được cơi nới với một căn phòng ở mặt tiền, có diện tích nhỏ, xây bằng gạch và bao quanh là ba mặt tường; cái nhà hang nguyên thủy trở thành căn phòng cuối nhà.  Chính cái phòng ngoài của căn nhà đã được nhà De Angelis - đang lo ngại vì diễn biến của tình hình và tin chắc vào sự tái chiếm của người Hồi giáo trong nay mai - cẩn thận tháo dỡ và chất lên một trong những tàu buôn của họ đem về cất ở Ý, vào khoảng năm 1290.

 Mới đầu, không hiểu vì lý do gì, cái kiện hàng tuy linh thánh nhưng cồng kềnh đó lại cập bến cảng ở Trast ở Croatia - nơi nhà De Angelis có một cửa hàng thương mại.  Đáng lẽ Ngôi Nhà Linh Thánh đó sẽ ở lại đây - ở Trast người ta vẫn còn tôn kính kỷ niệm về lần "dừng chân" đó.  Nhưng các chủ tàu vì linh cảm thấy rồi ra đạo Hồi sẽ tràn ngập vùng Balkans nên quyết định chở ngôi nhà về Ý năm 1294 và dựng lại y như cũ trên miếng đất của mình ở Loreto.  Sự kiện đã xảy ra như thế.  Rất mau chóng, các phép lạ diễn ra hàng loạt, danh tiếng của đền thờ vang xa, còn người hành hương thì ngày càng đông.

 Cuối thế kỷ 15, ông Pietro Tolomei de Terramo - "sử gia" đầu tiên của Loreto - trình bày phiên bản của riêng mình về chuyện đó; ông khẳng định ngôi nhà linh thánh này được đưa đến đây trực tiếp từ hành trình trên không qua trung gian của các thiên thần.  Thực ra trong tiếng la tinh, De Angelis có thể dịch như vậy (nhờ thiên thần); như vậy thì không phải gian dối mà chỉ là một trò chơi chữ khôn khéo, kiểu đùa nghịch ngoan đạo của các nhà La tinh học uyên bác.  Tuy nhiên, có một điều có thể tạo sức nặng nào đó cho phiên bản nói về phép lạ này, khiến người ta phải bối rối, đó là ngôi nhà ở Loreto lại không có nền móng: nhà nằm ngay trên mặt đất, như thể các thiên thần đã đặt nó ở đó và bay đi mất mà không quan tâm gì đến nó nữa.

 Nơi Ngôi Lời làm người

 Tất nhiên, phiên bản quá thơ mộng này khiến giới Tin Lành, sau cuộc Cải Cách, cười nhạo không ít; mà không chỉ có họ, đến ngay trong lòng Giáo Hội, những bậc tu hành rất thông thái cũng từ chối không tin vào điều đó, cho rằng cái nhà được cho là của Đức Maria, nhờ một sự quảng cáo khôn khéo, đã kịp thời thúc đẩy lại nền thương mại địa phương đang gặp khó vì mất Miền Đất Thánh...

 Một số người khác, cũng thông thái không kém, lại ủng hộ sự thật về sự chuyển dịch nhiệm lạ, khẳng định rằng chỉ có một sự kiện khác thường nào đó mới có thể giải thích được sự thành công của đền thờ Loreto.  Sự kiện xuất hiện tức thời và siêu việt của ngôi nhà ấy phải chăng là đã được chính các thiên thần đặt xuống ở nơi đó, hay để xây dựng lại ngôi nhà thật ở Nazarét?  Vấn đề này còn lâu mới có sự đồng thuận, nhưng có điều chắc chắn là các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những nét giống nhau thật sự giữa ngôi nhà thánh này và địa điểm Truyền Tin tại Nazarét.

 Sự sùng kính Đức Bà Loreto phổ biến tới mức rất nhiều nhà thờ và nhà nguyện được đặt dưới sự cầu bầu của Đức Bà Loreto, nhất là tại Pháp, Áo và vùng Bavière, Đức.

 Dù sao đia nữa, ngay giữa lúc bùng nổ lòng sùng kính Đức Mẹ, đền thờ Loreto đã được khoác lên một sự tôn vinh toàn cầu.

 Năm 1450, Đức Giáo hoàng Phaolô II đã tặng cho ngôi nhà nhỏ này một "cái hộp đựng" tuyệt đẹp và giao cho kiến trúc sư Bramante việc dựng lên một đại thánh đường hoành tráng ôm trọn căn nhà.  Trước mặt tiền vừa xây xong, Đức Giáo hoàng Sixto V cho khắc dòng chữ: "Đây là nhà của Mẹ Thiên Chúa nơi Ngôi Lời nhập thể làm người.”

 Năm 1669, lễ mừng sự di dời của ngôi nhà linh thánh Loreto được ghi vào lịch phụng vụ, ngày 10-12, với phụng vụ giờ kinh riêng.  Mặc dù từ dạo đó đã có nhiều lời kinh khác do các Đức Giáo hoàng thêm vào để tăng phần phong phú, những kinh cầu cùng Đức Mẹ, được soạn theo hình thức hiện hành chính là tác phẩm của Giám mục Giulio Candiotti - giám quản vương cung thánh đường này - đã soạn chúng năm 1578, lấy cảm hứng từ những phiên bản cổ khác nhau, nên được gọi là những kinh cầu Loreto.  Những kinh cầu này được Đức Giáo hoàng Grêgôriô 13 chúc lành và được các tu sĩ dòng Tên đọc để cầu nguyện, đặc biệt là Thánh Phêrô Canisius; thánh nhân xem đây là vũ khí hữu hiệu nhất chống lại cuộc Cải Cách (Tin Lành), và phổ biến những kinh này ra toàn thế giới.  Việc sùng kính Đức Bà Loreto phổ biến đến mức rất nhiều nhà thờ và nhà nguyện được đặt dưới sự cầu bầu của Đức Bà Loreto, nhất là ở Pháp, Áo và xứ Bavière, Đức.

 Cuối cùng, do truyền thuyết chuyển dời ngôi nhà trên đôi cánh các thiên thần, Đức Bà Loreto trở thành quan thầy của các phi công và tất cả những ai đi máy bay.  Và cũng hợp lý thôi khi cũng là quan thầy của những công nhân chuyển nhà.

 Anne Bernet (Aleteia) - Lê Hưng (TGPSG) chuyển ngữ

Nguồn: https://tgpsaigon.net

 

Tuesday, December 5, 2023

NHẬN LÃNH ƠN TOÀN XÁ khi VIẾNG HANG ĐÁ

 



ĐTC ban ơn toàn xá cho tín hữu viếng hang đá Giáng Sinh tại nhà thờ dòng Phanxicô

Theo thỉnh nguyện của Gia đình Phan Sinh, nhân dịp kỷ niệm 800 năm Thánh Phanxicô thực hiện hang đá Giáng sinh đầu tiên ở Greccio, một thị trấn nhỏ thuộc miền Lazio của Ý, Đức Thánh Cha Phanxicô muốn ban ơn toàn xá cho những người cầu nguyện trước hang đá Giáng sinh tại bất kỳ một nhà thờ nào của dòng Phanxicô.

Hồng Thủy - Vatican News

 

Vào năm 1223, trở về từ Thánh Địa, Thánh Phanxicô đã yêu cầu tái dựng cảnh ra đời của Chúa Giêsu tại một ngôi làng nơi khiến ngài nhớ đến Bêlem. Và ngài đã thực hiện hang đá Giáng sinh đầu tiên tại Greccio.

Trong bản kiến nghị đệ trình Đức Thánh Cha vào ngày 17/4/2023, Hội đồng Gia đình Phan Sinh thỉnh cầu rằng từ ngày 8/12/2023, Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, đến ngày 2/2/2024, Lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu Kitô trong Đền thờ, “khi viếng thăm các nhà thờ do các Gia đình Phan Sinh trên toàn thế giới điều hành và dừng lại cầu nguyện trước hang đá được dựng ở đó, các tín hữu có thể nhận được ơn toàn xá theo những điều kiện thông thường”.

Ghi chú của Dòng Phanxicô nói thêm rằng “các bệnh nhân hoặc những người không thể hiện diện cầu nguyện trực tiếp đều có thể được hưởng ơn toàn xá bằng cách dâng những đau khổ của họ cho Chúa hoặc thực hành các việc đạo đức”.

Đang quy tụ tại Assisi trong những ngày này, Hội đồng Gia đình Phan Sinh yêu cầu tất cả anh chị em của Gia đình Phan Sinh phổ biến “đặc ân này đến mọi nơi của chúng ta”. (SIR 28/11/2023)

-----------------------------------------------

https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2023-11/dtc-phanxico-on-toan-xa-800-nam-hang-da-greccio-dong-phanxico.html

Tuesday, November 28, 2023

“THÁO GIẦY”

Tôi nhớ lại một câu truyện rất lý thú về sự tích đôi giày. Truyện kể rằng ngày xưa có một ông vua, sống rất xa xỉ. Mỗi khi đến đâu, ông bắt dân chúng nơi ấy phải trải thảm nhung trên tất cả những con đường ông đi qua. Càng được đón tiếp long trọng, ông càng thích đi; và ông càng đi, người ta càng phải trải nhiều thảm nhung cho ông bước lên. Cho đến một ngày, người ta không kịp sản xuất nhung để lót đường cho ông vua. Điều này làm ông tức giận và ra lệnh rằng ông đến đâu mà không có thảm nhung lót đường, cả dân vùng ấy sẽ bị giết chết hết. Thế nhưng đã có một người đến xin yết kiến vua, ông ta cam đoan rằng nếu vua theo ý ông, vua đi đâu thảm nhung cũng có sẵn mà không phải huy động một ai cả. Vua bằng lòng, và ông nọ dùng hai mảnh nhung nho nhỏ, khâu thành một đôi giày nhung rồi mời vua xỏ chân vào. Thế là từ đó, vua đi đâu ''thảm nhung'' đi theo đến đấy. Kỹ nghệ làm giày từ đó dần dần thành hình và phát triển.

 VĂN HÓA ỨNG XỬ NHÀ GIÁO - ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ

Câu truyện này khiến tôi suy nghĩ và cảm thấy có liên hệ tới tính chất của những đôi giày. Đôi giày tượng trưng cho sự giàu có, hay ít ra cũng là đủ ăn đủ mặc, đôi giày làm cho người ta trở nên chững chạc, lịch sự. Đi đến nơi nào có vẻ quan trọng một chút, người ta xỏ chân vào đôi giày, tự nhiên trông có vẻ tươm tất ngay. Bà phu nhân của cố tổng thống Phi Luật Tân Marcos có tới vài trăm đôi giầy đắt giá. Tôi không biết có ai trong chúng ta có tới vài trăm đôi giày như vậy không, nhưng chừng vài chục đôi thì tôi cũng đã biết có người. Có những người ham thích mua giày, dư tiền một chút, họ đi sắm giày. Những đôi kiểu mới, họ mang vào chân, ngắm nghía rồi mua đem về, dù rằng những đôi cũ còn rất tốt, lại có những đôi họ chưa xỏ chân vào lần thứ hai. Chính vì có nhiều người ham thích mua giày, đóng giày mà kỹ nghệ sản xuất giày phát triển rất mạnh, với nhiều hãng giày nổi tiếng. Có những đôi giày trị giá mấy trăm Mỹ kim, trong khi một đôi dép dùng hằng ngày trong nhà có thể chỉ phải mua với giá hai, ba đồng.

Đôi giày làm nên ranh giới của người no đủ và người nghèo đói. Đôi giày cũng ... làm nên ranh giới của người tự do và người nô lệ. Ngày xưa, trong một số xã hội nào đó chỉ những người tự do mới được quyền đi giày, còn người nô lệ phải đi chân đất. Dụ ngôn ''đứa con hoang đàng'' trong Phúc Âm cũng có hình ảnh của đôi giày. Khi đứa con hoang trở về, nghèo đói, rách rưới qùy xuống chân cha nói lời tạ tội và chỉ mong cha cho trở về, nhận làm kẻ hầu người hạ trong nhà chứ không dám mơ được nhận làm con như trước; người cha nhân lành đã đỡ con dậy, gọi gia nhân đem áo cho mặc, nhẫn cho đeo, giày cho đi. Đôi giày ấy thay cho lời người cha, nói với người con rằng: ''Con là con cha, là người tự do, con không phải là kẻ ăn người ở, không phải là hạng nô lệ trong nhà này.''

Nhưng đôi giày cũng là vật tượng trưng chơ sự gò bó. Đôi giày trở nên nỗi cực hình đối với những ai thích cho đôi chân mình được thoải mái. Tôi vốn thích đi dép hoặc xăng đan ''cho nó mát". Ngày đầu tiên đi dạy học, tôi cũng định lê đôi dép vào trong lớp, nhưng mẹ tôi đã đe: ''Nếu con không chịu mua giày và không chịu đi giày, mẹ không cho con tới trường dạy học.'' Tôi hoảng quá, đành phải đi sắm giày mà trong lòng lấy làm đau khổ vô cùng. Bây giờ, tôi vẫn có thói quen đi dép hay đi xăng đan. Và đang khi có đôi chân thoải mái như thế, tôi nhìn những người bạn phải đi giày suốt từ sáng đến tối mà thương cho họ. Nhất là những cô phải xỏ chân vào đôi giày cao gót và để đôi giày ấy đeo cứng chân mình, dù đi, dù đứng, dù ngồi; chắc là bí bức, gò bó lắm. Nhưng nói vậy thôi, có nhiều người sẵn sàng chịu sự gò bó để cảm thấy mình đẹp và được khen là đẹp. Tuy nhiên, tôi cũng thấy có nhiều người, nhất là những người trẻ, bước đi trên đường phố bằng những đôi chân trần không giày dép. Những người trẻ này có lẽ không thích sự gò bó, dù là sự gò bó của đôi giày hay sự gò bó của những luật lệ, định chế xã hội.

Có một khoa nhìn giày để đoán ra tính nết người đi đôi giày đó. Người ta nhìn đôi giày mòn ở mũi hay ở đế, mòn phía trong nhiều hay mòn phía ngoài nhiều, rồi từ đó đoán ra người đi đôi giày ấy tính hướng nội hay hướng ngoại, bình tĩnh hay hấp tấp, cương quyết hay e dè v,v... Tôi không biết những điều ước đoán ấy đúng, sai ra sao, nhưng từ lâu tôi vốn thích ngắm những đôi giày mòn vẹt hơn là nhìn những đôi giày bóng loáng chưa đụng đất trong tiệm bán giày. Giày đẹp mấy mà chưa dùng đến thì cũng chưa đem lại chút lợi ích gì cho con người. Giày càng mòn, càng vẹt bao nhiêu, càng chứng tỏ nó đã giúp cho con người di chuyển nhiều bấy nhiêu. Đẹp mà không giúp ích cho đời, cũng không quí bằng dù tàn tạ nhưng đã đem lại ích lợi cho đời sống con người.

 Chính vì thế đã có người rất quý trọng đôi giày mòn, vẹt của mình. Người ta kể rằng một tu viện nọ tổ chức một cuộc tĩnh tâm. Cuối ngày, cha tu viện trưởng nói với mọi người để lên bàn vật mình cho là quý nhất. Các tu sĩ lần lượt để lên bàn những báu vật của mình. Người thì đặt lên một cây thánh giá bằng vàng, người khác là một cuốn thánh kinh đóng bìa da công phu, người khác nữa là một tràng hạt bằng bạc... Đến lần vị tu sĩ kia, ông thản nhiên cúi xuống tháo đôi giày cũ kỹ, mòn vẹt của ông và trịnh trọng đặt lên bàn. Mọi người ồn ào, bất mãn, người ta cho rằng vị tu sĩ kia ngạo mạn và bất kính đối với người khác và đối với những báu vật của họ. Tu viện trưởng ra lệnh cho vị tu sĩ kia giải thích tại sao lại cho đôi giày cũ kỹ bụi bặm kia là vật quí nhất, vị tu sĩ trả lời: ''Vì chính nhờ nó, con đã đem được Tin Mừng của Chúa Ki tô đến biết bao con người ở những miền đất xa xôi”. Câu truyện này khiến tôi liên tưởng đến lời của tiên tri Isaia: ''Đẹp thay bước chân người đi gieo rắc Tin Mừng.'' (Is 52, 7)

 Thầy giáo trẻ xung phong lên biên giới dạy học

 Ai từng đi giày cũng có một đôi giày mình ưng ý nhất, đôi giày ấy đi vào vừa vặn, bước đi thật êm, nó không cọ xát khiến đôi chân đau bỏng, nó không bó đôi chân lại khiến chân bị tê buốt, nó cũng không lỏng lẻo khiến cho đôi chân muốn tuột ra ngoài. Khi có một đôi giày ưng ý rồi, ta không thích đi đôi giày khác, nhất là không thích dùng giày của người khác. Đôi giày khi đó trở thành vật biểu tượng cho sở thích, cho bản tính của mình. Có lẽ chính vì thế mà lâu nay người ta có thành ngữ ''đi giày nhiều người''. Thành ngữ này có nghĩa là khi làm việc, ta phải chiều theo tính nết của quá nhiều người thì việc mới thành tựu được. Phải ''đi giày nhiều người'' là một tình trạng rất khổ tâm của những người muốn hoạt động hữu hiệu cho một mục tiêu cao đẹp, mà cứ phải chiều ý hết người này tới người khác. Mặt khác, ''đi giày nhiều người '' cũng là câu chê bai dành cho những ai không dám tự quyết không dám can đảm dấn thân, bất chấp những nhân sự ''cản mũi kỳ đà'', mà cứ luôn luôn phải làm theo ý người này, người nọ.

 Mách bạn cách F5 giày cũ đơn giản mà cực đẹp

Dịp lễ Phục Sinh vừa qua, tôi được dịp ''tháo giày'' một cách hết sức thoải mái. Chuyện ''tháo giày'' của tôi không liên quan gì đến việc các viên chức đóng vai mười hai tông đồ, tháo giày ra cho vị linh mục chủ tế, bắt chước Chúa Giêsu, rửa chân cho mình. Chuyện ''tháo giày” của tôi hoàn toàn khác. Tôi được gọi đến dự một cuộc tĩnh tâm của giới trẻ. Sau những nghi thức và những bài giảng, đêm đã về khuya. Đây là thời điểm thuận tiện nhất để những người trẻ ngồi lại với nhau, tâm sự về những thao thức, những ước vọng, những suy tư của mình. Để tạo bầu không khí thân mật, vị linh mục phụ trách kêu gọi mọi người ngồi xuống đất bên nhau thành vòng tròn, thay vì ngồi trên ghế. Muốn ai cũng có thể ngồi thoải mái, vị linh mục xin mọi người tháo giày ra trước khi ngồi. Khi được lệnh ''tháo giày'', tôi là người sung sướng nhất. Lúc nào tôi cũng mong đợi chân mình được tự do! Vừa tháo giày, tôi vừa quan sát những người trẻ chung quanh. Một số tháo giày ra ngay; một số khác còn ngần ngừ, như còn e dè, nuối tiếc gì đó. Nhưng rồi cuối cùng, ai cũng tháo giày ra hết. Với đôi chân thoải mái, mọi người ngồi xuống đất, vòng tròn thu hẹp dần, thu hẹp dần, cho đến khi vai người này có thể chạm được vai người khác, đầu người nọ có thể chụm vào đầu người kia. Và họ bắt đầu chia sẻ với nhau về những ưu tư, khát vọng, mơ ước, hạnh phúc, đau khổ của mình. Đúng lúc ấy tôi nghĩ tới đôi giầy mọi người vừa tháo khỏi chân. Đôi giày, nhìn dưới một khía cạnh nào đó, chính là bản chất riêng của mỗi người. Để có thể ngồi sát bên nhau, vai chạm vai, đầu chụm đầu, nghe được nơi nhau những lời chia sẻ thân tình, chúng tôi phải tháo đôi giày, phải cởi bỏ bản chất riêng của mình trước đã, rồi mới có thể hòa đồng trong một bầu khí chung, một tâm tình chung. Những giọt lệ nơi khóe mắt tôi ứa ra một cách kín đáo.

 Tôi ước mong trong cuộc sống, tôi và các bạn tôi biết nhận thức rằng: rất nhiều lúc, chúng tôi phải tập ''tháo giày" tập cởi bỏ bản chất riêng để cùng nhau theo đuổi một mục đích chung. Cùng nhau đi chân trần trên đường hướng về lý tưởng, có lẽ thích thú hơn lộp cộp với đôi giày để bước những bước độc hành.

Tác giả Quyên Di

Nhà Văn, Giáo Sư Ngôn Ngữ

và Văn Hóa Việt Nam đại học UCLA

 

 

BÀI GIẢNG LỄ AN TÁNG CHO MỘT NGƯỜI TỰ TỬ

 

 Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (3,16-17)

Khi ấy, Đức Giêsu nói với ông Nicôđêmô rằng: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ."

 Bài giảng

Quý ông bà và anh chị em thân mến,

Anh T. vừa đột ngột rời xa chúng ta khi vẫn còn rất trẻ. Trước sự ra đi của anh, chúng ta cảm thấy thương anh và đau xót. Và có lẽ có người trong chúng ta cũng âm thầm hỏi anh: Sao anh lại dại dột như vậy? Sao anh lại có quyết định nông nổi như vậy? Mọi chuyện đều có thể giải quyết, sao anh lại phải chọn con đường cụt này?... Nhưng khi hỏi anh như vậy, có lẽ chúng ta cũng tự hỏi, phải chăng mình đã chưa quan tâm đủ để nhìn thấy những thay đổi nơi anh, hay mình chưa đủ yêu thương để nhận ra những dấu hiệu bất ổn của anh, hay phải chăng mình quá coi nhẹ những khó khăn của anh và để anh một mình tìm cách giải quyết?...

Những câu hỏi này khiến chúng ta cảm thấy đau và nặng nề. Nhưng dù chúng ta có hỏi mình bao nhiêu lần, dù có suy đi nghĩ lại, chúng ta cũng không tìm thấy câu trả lời thỏa đáng. Bởi sẽ không có câu trả lời thỏa đáng nào cả. Chúng ta đang phải trải nghiệm sự nặng nề và buồn bã của biến cố này mà không tìm được câu trả lời cho những câu hỏi của mình.

Anh T. đã chọn cái chết, và chúng ta phải tôn trọng lựa chọn này của anh, dù cho sự lựa chọn đó không phù hợp với quan điểm hay quan niệm sống của chúng ta. Cái chết của anh đẩy chúng ta đối diện với mầu nhiệm về con người, với những điều kín nhiệm mà không ai trong chúng ta có thể thấu hiểu hay chạm đến được. Vì thế, chúng ta không cố gắng để giải thích những điều chúng ta không thể hiểu, cũng không nhất thiết phải lý giải hành động của anh. Điều duy nhất chúng ta có thể làm và phải làm là cầu nguyện và phó thác anh cho lòng thương xót của Thiên Chúa.

Chúng ta không nên xét đoán và cũng không có quyền phán xét quyết định của anh T., vì chúng ta không biết những buồn sầu và sợ hãi, những đau khổ và tuyệt vọng của anh. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể phán xét con người một cách công bằng, vì chỉ có Chúa mới biết rõ từng người. Chỉ có Chúa mới thấu tỏ được tâm lòng của mỗi người (Gr 17,10). Và chỉ có Chúa mới yêu chúng ta đủ và nhiều để phán xét chúng ta.

Vì vậy thay vì đoán già đoán non, thay vì đưa ra một kết luận da trên sự hiểu biết vốn rất hạn hẹp của mình, chúng ta hãy để Chúa phán xét anh. Và chúng ta có quyền tin tưởng và hy vọng vào sự phán xét của Chúa, vì Chúa xét xử chúng ta theo lòng thương xót của Người. Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe cho chúng ta niềm tin này: Thiên Chúa Cha đã sai Con của Người đến với chúng ta không phải để loan báo cái chết nhưng để loan báo sự tha thứ và sự sống. Điều tưởng chừng như bị mất đi, Chúa lại cứu vớt nó. Nơi nào có bóng tối, Chúa đem ánh sáng đến. Nơi nào có sự chết, Chúa đến gieo sự sống. Chúa Giêsu nói: “Thiên Chúa sai con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.

Chúng ta có dám tin rằng ơn cứu độ dành cho anh Tâm vẫn nằm trong kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa không? Chúng ta có dám tin rằng, hôm nay, chính lúc này, Chúa Giêsu cũng đang nhìn anh với tình yêu và lòng thương xót như Người đã từng nhìn tất cả những người bất hạnh, những người đau khổ, những người tuyệt vọng khi Người đi loan báo Tin Mừng cứu độ ở trần gian không? Chỉ có Thiên Chúa mới thấy tất cả những gì là tốt, là rộng lượng từ tấm lòng của anh, những gì là giá trị trong cuộc đời của anh.

Nếu dám tin, chúng ta sẽ không còn nghi ngờ tình yêu của Chúa dành cho tất cả những người đã đau khổ đến mức không thể sống được nữa. Đối với tất cả những người chết, Chúa là Thiên Chúa của sự sống.

Dĩ nhiên, tin vào tình yêu và lòng thương xót của Chúa không phải để chúng ta cố chấp sống trong tình trạng tội lỗi hoặc coi nhẹ sự hoán cải. Tình yêu đích thực không bao giờ là cớ để chúng ta phạm tội. Nhưng tin vào tình yêu của Chúa là dám để cho Chúa chạm vào nỗi thống khổ của chúng ta, dám để Chúa kéo chúng ta chỗi dậy từ những yếu đuối, đứng lên từ đống đổ nát của tâm hồn mình và tiếp tục bước theo Người.

Anh T. đã rời xa chúng ta nơi trần gian. Nhưng chính cái chết, và cả cách chết của anh, lại trở thành sợi dây nối kết chúng ta, những người đang sống. Bởi qua cái chết của mình, có lẽ anh T. muốn mời gọi chúng ta hãy biết sống yêu thương nhau hơn, lắng nghe nhau nhiều hơn, dành thời gian cho nhau và nâng đỡ nhau, nhất là trong những lúc khó khăn, đau khổ. Thông điệp mà anh muốn gởi đến chúng ta có lẽ là khát vọng về một thế giới của sự sống và tình thương, nơi mà không một ai bị chối từ, nơi mà mọi người đều tìm thấy cho mình một sự ấm áp của tình người, và nơi mà niềm hy vọng không bao giờ bị đánh mất.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa tiếp đón người con, người anh em, người bạn của chúng ta vào trong Nước Hằng Sống, với lòng Thương Xót vô biên của Người. Và cũng xin Chúa cho chúng ta giữ mãi được niềm tin, niềm hy vọng vào tình yêu của Chúa để chúng ta tiếp tục cầu nguyện cho nhau và sống yêu thương nhau. Amen.

Tác giả:  Lm. Giuse Vũ Thái Hòa

WORLD WORLD