Sunday, September 10, 2023

PHỎNG VẤN LINH MỤC ĐỖ QUANG CHÍNH VỀ CUỐN SÁCH LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ

 Tính đến nay, chữ Quốc ngữ đã có một lịch sử hình thành và phát triển khoảng 400 năm, kể từ thập niên 20 của thế kỷ 17, một hành trình đủ dài để một hệ thống ngôn ngữ được hình thành và phát triển, bằng việc sử dụng các mẫu tự Latinh trong việc ký âm tiếng Việt. Như một dòng sông nhỏ, âm ỉ chảy trong dòng lịch sử dân tộc, chữ Quốc ngữ sống âm thầm, lặng lẽ bên cạnh chữ Nôm và chữ Hán trong suốt phần lớn thời gian hiện hữu của mình. Chỉ từ khoảng 100 năm qua, kể từ năm 1919, chữ Quốc ngữ đã được đón nhận và sử dụng rộng rãi bởi mọi thành phần người Việt.

Ngày 8 tháng 9 hằng năm được chọn làm Ngày Tôn vinh tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (đề án được Thủ Tướng chính phủ thông qua). Tôn vinh chữ viết này cũng nhắc nhớ ta về những người đã tạo ra nó, về hành trình mà thứ chữ này đã đi qua. Nghiên cứu thêm về chữ Quốc ngữ cũng là một trong những hoạt động nhằm tôn vinh nó. Trong một thập niên vừa qua, đã có nhiều hội thảo mà nơi đó các nhà nghiên cứu đã trình bày, chia sẻ những khám phá mới về lịch sử hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ. Ba hội thảo quan trọng có thể được kể tên ở đây: Hội thảo ở Phú Yên(10/2015), Hội thảo ở Bình Định (01/2016), Hội thảo ở Quảng Nam (08/2016). Tuy nhiên, hơn 40 năm trước đó, một tác giả Dòng Tên đã nghiên cứu sâu về lịch sử giai đoạn đầu hình thành thứ chữ này, được đúc kết trong cuốn sách mang tựa đề “Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659”, đã được in vào năm 1972 bởi Nhà Xuất Bản Ra Khơi.

Tiếp theo lời tựa này, chúng tôi xin giới thiệu đến quý độc giả bài phỏng vấn của Tinh Việt Văn Đoàn với chính tác giả quyển sách, linh mục tu sĩ Đỗ Quang Chính, S.J. – một tu sĩ Dòng Tên, thực hiện vào ngày 17/11/1972 khi quyển sách vừa được xuất bản. Dưới dạng 23 câu hỏi-đáp, bài phỏng vấn đề cập đến tiến trình xuất bản quyển sách, nhưng quan trọng hơn là những giải đáp ngắn gọn xung quanh lịch sử hình thành, các giai đoạn phát triển, những thách đố, khó khăn mà các tác giả tiên khởi của chữ Quốc ngữ đã gặp phải trong quá trình ký âm tiếng Việt. Bài phỏng vấn cũng có thể góp phần giúp chúng ta hiểu hơn về vai trò của một số nhân vật trong tiến trình hình thành thứ chữ mới này: linh mục Gaspar d’Amaral, linh mục Francisco de Pina, linh mục Alexandre de Rhodes…

Được thực hiện cách chúng ta đã 50 năm, ngôn từ của bài phỏng vấn có đôi chỗ hơi lạ lẫm so với cách nói của chúng ta hiện nay, chúng tôi cố ý đánh máy lại nguyên bản bài phỏng vấn trên tinh thần tôn trọng tác giả. Một đôi chỗ chúng tôi có sử dụng ngoặc đơn để giải thích thêm thuật từ, hoặc giải thích thêm tình huống khi phỏng vấn, vì trong cuộc phỏng vấn ấy, thỉnh thoảng tác giả cung cấp một số tài liệu cho người phỏng vấn xem.

Hi vọng bài phỏng vấn, dù đã cách chúng ta 50 năm, và dù tác giả Đỗ Quang Chính, S.J. đã có những hiệu đính trên chính tác phẩm của mình trong lần xuất bản gần nhất (2008), sẽ giúp chúng ta hiểu hơn, không chỉ về tác giả, nhưng quan trọng hơn về chính lịch sử buổi ban đầu của thứ chữ mà ngày nay chúng ta tôn vinh: chữ Quốc ngữ.

(Lời tựa: Nguyễn Huy Hoàng, S.J.)


PHỎNG VẤN LINH MỤC ĐỖ QUANG CHÍNH, S.J.*

(*Linh mục, tu sĩ Dòng Tên, Giáo sư Việt Sử – ĐH Văn Khoa Sài Gòn, Huế)

Bài phỏng vấn được thực hiện bởi TINH VIỆT VĂN ĐOÀN, ngày 17/11/1972

1. Hỏi: Chúng tôi mới được đọc cuốn sách “Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659” của linh mục (Người phỏng vấn giới thiệu hình cuốn sách). Trong sách có nhiều tài liệu quý. Vậy, linh mục đã tìm thấy những tài liệu đó ở đâu?

Thưa: Nhân dịp đi tìm tài liệu thế kỷ 17 để dọn một luận án, nhan đề “Sứ mạng của giáo sĩ Đắc Lộ ở Việt Nam” nên tôi cũng tìm hiểu thêm về Lịch sử chữ Quốc ngữ vào đầu thế kỷ 17. Những tài liệu đầu tay, tức là những bản thảo viết tay được trình bày trong sách đó, chúng tôi tìm thấy ở nhiều Văn khố, Thư viện tại La Mã (Rôma), Ba Lê (Paris), Lyon, Avignon, Lisbonne, và Madrid

2. Linh mục viết cuốn sách này, muốn dành cho giới độc giả nào?

Thưa: Chúng tôi muốn trình bày với mọi người thích tìm hiểu Lịch sử chữ Quốc ngữ vào giai đoạn đầu tiên, nhưng đặc biệt là muốn giới thiệu một số tài liệu đó với các nhà nghiên cứu và các bạn sinh viên trong ngành Việt sử và Việt văn.

3. Hỏi: Khi cho xuất bản, linh mục có nhờ một cơ quan văn hóa lớn nào tài trợ không?

Thưa: Trước khi xuất bản, chúng tôi chưa được hân hạnh tiếp xúc với một cơ quan văn hóa lớn nào để học giúp đỡ về tài chính. Nhưng chúng tôi đã được ông Giám đốc Nhà Xuất Bản Ra Khơi sẵn sàng bỏ tiền ra để xuất bản. Đó là một công việc nhằm phát triển văn học toàn diện.

4. Hỏi: In cuốn sách này có khó lắm không?

Thưa: Phải nói rằng việc in cuốn sách này có phần khó khăn. Vì thế, cuốn sách tuy chỉ có 174 trang mà nhà in đã phải kéo dài tới gần 6 tháng.

5. Hỏi: Linh mục có thể cho biết một vài khó khăn không?

Thưa: Có thể tóm tắt ba khó khăn sau đây:

Khó khăn thứ nhất: Nhà in quá nhiều việc.

Khó khăn thứ hai: Trong sách có nhiều loại chữ cổ vào thế kỷ 17: chữ Quốc ngữ cổ, chữ Bồ Đào Nha cổ, chữ Ý cổ, chữ Pháp cổ, chữ Latinh cổ.

Khó khăn thứ ba: Kỹ thuật sắp chữ và làm phim cuốn sách khảo cứu này thật phiền phức, mà thợ nhà in rất ít khi gặp. Do đó, nhà chữ, nhà làm phim, và nhà chạy máy in, đều ngán nó, mặc dầu là in offset.

6. Hỏi: Bây giờ chúng tôi muốn xin Linh mục cho khán thính giả biết: Người nào đã sáng lập ra chữ Quốc ngữ và lập vào thời kỳ nào?

Thưa: Không phải riêng một người nào đã sáng lập chữ Quốc ngữ, nhưng là do nhiều người. Còn thời kỳ sáng lập là vào khoảng từ năm 1620 đến 1651.

7. Hỏi: Vào thế kỷ 17, Việt Nam đã có chữ quốc ngữ là chữ Nôm, tại sao còn lập ra một thứ chữ quốc ngữ mới?

Thưa: Vì những người sáng lập chữ Quốc ngữ mới nhận thấy chữ Quốc ngữ cũ của Việt Nam là chữ Nôm rất khó học, nên họ đã tìm cách lập ra chữ Quốc ngữ mới, tức là chữ viết của Việt Nam ngày nay, để dễ học hơn.

8. Hỏi: Vừa rồi, linh mục cho là, chữ Quốc ngữ đã do nhiều người sáng lập, vậy linh mục có thể cho biết danh tính của một số vị đó?

Thưa: Để trả lời câu hỏi của ông Giám đốc, thiết tưởng chúng ta cũng nên biết rằng: chữ Quốc ngữ đã được hình thành trong một thời gian tương đối ngắn; tuy thế, nó cũng đã được thành hình dần dần, mà chúng tôi tạm chia thành ba giai đoạn sau đây:

Giai đoạn thứ nhất: từ năm 1620 đến 1630: Trong giai đoạn đầu tiên này, có 4 người đáng chúng ta lưu ý: đó là các linh mục Francisco de Pina, Cristoforo Borri, Francisco Buzomi, và Alexandre de Rhodes.

Thứ nhất: Francisco de Pina người Bồ Đào Nha, đến Việt Nam ở tại Quảng Nam và Qui Nhơn từ năm 1617, rồi bị chết đuối ở bờ biển Quảng Nam năm 1625. Chúng ta có thể nói rằng Pina là người Âu châu đầu tiên biết nói thành thạo tiếng Việt. Chính ông là thầy dạy tiếng Việt cho Alexandre de Rhodes. Vì thế, chúng ta lại cũng dám nói rằng, có lẽ Pina là người đầu tiên có sáng kiến lập ra chữ Quốc ngữ.

Thứ hai: Cristoforo Borri người Ý, đến ở tại Nước Mặn gần Qui Nhơn, từ năm 1618, đến năm 1621 thì ông rời Việt Nam về Âu châu. Ông cũng là người nói tiếng Việt giỏi. Năm 1631, ông cho in tại La Mã một cuốn sách về miền Nam Việt thời đó (còn gọi là Cochinchine). Đây là cuốn sách đầu tiên bằng chữ Âu châu, nói về Nam Việt. Trong sách này, người ta thấy rải rác một số chữ Quốc ngữ, phiên âm theo lối viết của Bồ Đào Nha và Ý.

Thứ ba: Francesco Buzomi người Ý, đến ở Việt Nam từ năm 1615 đến 1639. Theo một bức thư của Buzomi bằng tiếng Ý ngày 13-7-1626, thì ông đã viết vài chữ Quốc ngữ khá đúng. Ví dụ: thien chũ, ngaoc huan.

Thứ bốn: Alexandre de Rhodes người sinh tại Avignon, nên có quốc tịch Tòa Thánh La Mã. Ngày nay, chúng ta gọi ông bằng tên Đắc Lộ. Ông đến ở Việt Nam hai thời kỳ: 1624 – 1630 và 1640 – 1645. Trong giai đoạn đầu tiên này, Đắc Lộ viết chữ Quốc ngữ còn kém Buzomi. Đây là bức thư ông viết bằng tiếng Bồ Đào Nha ngày 16-6-1625 (tác giả cho người phỏng vấn xem bản chụp bức thư). Và ta thấy có hai chữ đã bị Bồ Đào Nha hóa: Ainão, Tunquin.

9. Hỏi: Còn giai đoạn thứ hai thế nào?

Thưa: Giai đoạn thứ hai từ năm 1630 đến 1640: Giai đoạn này quan trọng nhất, vì chính trong khoảng thời gian trên, chữ Quốc ngữ đã được hình thành. Theo sử liệu để lại, giai đoạn này có hai linh mục Dòng Tên cũng là hai người Bồ Đào Nha góp nhiều công nhất: 1. Linh mục Gaspar d’Amaral ở Thăng Long từ năm 1631 đến 1638. Trong thời gian này, ông đã soạn một cuốn từ điển bằng ba thứ chữ: Việt – Bồ – Latinh. 2. Antonio Barbosa đến ở Bắc Việt (lúc ấy gọi là Tonkin) từ năm 1636 đến 1642. Barbosa cũng soạn một cuốn tự điển bằng hai thứ chữ: Bồ Đào Nha – Việt Nam.

10.  Hỏi: Ở đâu còn giữ được hai cuốn tự điển trên đây không?

Thưa: Đây là hai cuốn tự điển viết tay, chưa được in ra. Nghĩa là mỗi cuốn tự điển chỉ có một bản duy nhất. Chúng tôi đã chủ ý tìm mà chưa thấy. Rất có thể cả hai cuốn tự điển quý giá này đã bị tan nát vào khoảng năm 1759 đến 1770 khi Văn khố Dòng Tên Tỉnh Nhật Bản được chuyển từ Áo Môn đi Manila rồi đi Madrid.

11. Hỏi: Giai đoạn thứ ba ra sao?

Thưa: Giai đoạn thứ ba từ khoảng 1640 đến 1651: vào quãng giai đoạn này, linh mục Đắc Lộ đã soạn thảo hai sách chữ Quốc ngữ, và cái đặc sắc trong giai đoạn này là vào năm 1651, Đắc Lộ đã cho in hai sách chữ Quốc ngữ của ông tại La Mã. Đó là cuốn Tự điển Việt – Bồ Đào Nha – Latinh và cuốn giáo lý Phép Giảng Tám Ngày.

12. Hỏi: Vậy trong ba giai đoạn trên không có người Việt Nam nào góp phần vào việc sáng tác chữ Quốc ngữ chăng?

Thưa: Sử liệu không cho ta biết rõ ràng lắm; nhưng theo nhận định của chúng tôi, thì hồi đó, một số tu sĩ Công giáo người Việt Nam cũng đã cộng tác nhiều với các vị trên đây, như các ông Phansinh Đức, Bentô Thiện ở ngoài Bắc và ông Inhã trong Nam.

13. Hỏi: Linh mục có thể cho biết tài liệu về mấy vị này?

Thưa: Chúng tôi có tìm được mấy bản viết tay bằng chữ Quốc ngữ năm 1659 (cho người phỏng vấn xem ảnh chụp bản văn). Ví dụ đây là một từ trong tập Lịch sử nước Annam do ông Bentô Thiện viết năm 1659, mà chúng tôi đã chụp lại của Văn Khố Dòng Tên ở La Mã. Tài liệu này rất quý, vì nó cách chúng ta trên 300 năm rồi, mà mới được khám phá ra.

14. Hỏi: Người ta cho rằng: Linh mục Đắc Lộ là người góp công nhiều nhất trong việc thành lập chữ Quốc ngữ, nên đã gọi là ông tổ chữ Quốc ngữ. Linh mục nghĩ sao?

Thưa: Nếu muốn nói đến người góp công nhiều nhất trong việc sáng tạo chữ Quốc ngữ, có lẽ chúng ta phải dành cho Gaspar d’Amaral mới đúng. Vì, vào cuối năm 1632, Gaspar d’Amaral viết chữ Quốc ngữ đã giỏi mặc dầu ông mới ở Việt Nam được có 28 tháng rưỡi. Còn Đắc Lộ, ngay vào năm 1636, viết chữ Quốc ngữ còn kém, dù ông đã ở Việt Nam được 57 tháng trời. Do đó, chúng ta cũng có thể dành tước hiệu ông tổ chữ Quốc ngữ cho Gaspar d’Amaral. Tuy nhiên, Đắc Lộ lại là người góp công lớn lao hơn hết ở chỗ ông đã cho xuất bản hai sách chữ Quốc ngữ đầu tiên vào năm 1651.

15. Hỏi: Những người sáng lập chữ Quốc ngữ đã phỏng theo lối viết nào?

Thưa: Chúng tôi xin trả lời hết sức tổng quát: các nhà sáng lập chữ Quốc ngữ đã bắt chước một số nhà truyền giáo Dòng Tên ở Nhật Bản thời đó, đem vần abc để tạo ra lối viết chữ Quốc ngữ. Điều này chúng ta đều quá rõ. Nhưng có một điều đáng lưu ý là: họ đã phỏng theo lối viết nhiều nhất của chữ Bồ Đào Nha, Pháp, rồi đến chữ Ý.

16. Hỏi: Vậy, một số người cho rằng chữ Quốc ngữ hầu hết viết theo lối Pháp là sai chăng?

Thưa: Theo sự hiểu biết hạn hẹp của chúng tôi, thiết tưởng chúng ta nên phân biệt hai giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất: Từ đầu đến giữa thế kỷ 17: các nhà sáng lập chữ Quốc ngữ đã ghi theo lối Bồ Đào Nha nhiều hơn.

Giai đoạn thứ hai: Từ cuối thế kỷ 17 đến nay: chữ Quốc ngữ, xem ra lại ghi theo lối Pháp nhiều hơn. Về điểm này, nhiều nhà ngữ học Việt, Pháp, Mỹ cũng nghĩ như thế.

Nhưng trong giai đoạn thứ nhất và trong giai đoạn thứ hai, có chừng bao nhiều phần trăm được ghi theo lối Bồ Đào Nha, hoặc bao nhiêu phần trăm được ghi theo lối Pháp, thì chúng tôi không dám nói. Công việc khó khăn này phải dành cho các nhà chuyên môn về ngữ học Việt Nam.

 

17. Hỏi: Tuy linh mục chỉ là người chuyên môn về Sử học Việt Nam, nhưng linh mục có thể cho biết vài ví dụ về chữ Quốc ngữ vào đầu thế kỷ 17 được ghi theo lối Bồ Đào Nha?

Thưa: Với một sự dè dặt, chúng tôi xin đan cử mấy chữ trong bản tường trình của Gaspar d’Amaral là người Bồ Đào Nha, viết tại Thăng Long ngày 31-12-1632 (phần này, tác giả viết minh họa lên bảng cho người phỏng vấn xem):

Chữ nha ngày nay, tác giả đã viết là nha. Trong chữ Bồ Đào Nha cũng có lối viết như thế: manha, nghĩa là quỷ quyệt.

Chữ não ngày nay, xưa Gaspar d’Amaral cũng viết là não. Bồ Đào Nha cũng có chữ não, nghĩa là không.

Chữ thủy ngày nay, G. d’Amaral viết là thuỉ. Ông viết thế là vì trong chữ Bồ Đào Nha không có vần y. Chúng ta biết rằng, Bồ Đào Nha chỉ có 23 mẫu tự, không có mẫu tự K, W (kép), Y. Tuy nhiên, đôi khi vì phải mượn ngoại ngữ, nên họ cũng dùng, ví dụ: Kant, Byron, Wagner.

Chữ quê ngày nay, năm 1632 Amaral cũng đã viết là quê. Trong chữ Bồ Đào Nha có chữ quê, nghĩa là nỗi khó khăn

Chữ già ngày nay, vào năm 1632, ông Amaral viết là , ví dụ: ông jà nhạc. Trong tiếng Bồ Đào Nha cũng có chữ já nghĩa là đã xong. Nhưng ta thấy vào năm 1637, ông Amaral lại viết là già như chúng ta đang dùng ngày nay.

Còn một số chữ khác, nhưng chúng tôi xin kể vắn như thế. Như chữ oũ (ông).

Còn Đắc Lộ thì ghi như sau:

*Viết trong ARSI, JS 83-84, f1-62v, năm 1636

Che ce

: Kẻ Chợ

Che bich

: Kẻ vích

Che no

: Kẻ nộ

Cüia

: Chua, Chúa

Gnati

: nhà ti

Gna huyen

: nha huyện

Tlẽ, tle

: Trẻ, tre

*Viết trong Dictionarium, 1651

Chúa

: Chúa

Trong đây chỉ viết là chúa, nhưng trong Relazione… del Tunchino lại viết: cüia, Ciua, và choüa trong Divers voyages…

Chọuc

: chục

Cái chọuc chọuc

: cái chục chục (trục)

Choũ

: chông

Chóũ

: chống

Blời

 

Tla, tlôi

: tra, trôi

Trơi

: trơi, ma trơi

18. Hỏi: Tại sao vào đầu thế kỷ 17 người ta lại ghi chữ Quốc ngữ theo lối Bồ Đào Nha nhiều hơn?

Thưa: Vì hầu hết các vị sáng lập chữ Quốc ngữ là người Bồ Đào Nha; nếu có mấy vị không phải là người Bồ Đào Nhà, thì lại cũng là người thông thạo chữ Bồ Đào Nha và họ bị lệ thuộc vào chế độ bảo trợ của Bồ Đào Nha lúc đó, tiếng Bồ Đào Nha gọi là padroado. Cũng vì chế độ bảo trợ ấy, nên những người Tây phương tiếp xúc với Việt Nam trong tiền bán thế kỷ 17 đa số là người Bồ Đào Nha. Họ là những nhà truyền giáo hoặc là thương gia Bồ Đào Nha.

19. Hỏi: Các nhà sáng lập chữ Quốc ngữ vào đầu thế kỷ 17, thường coi cái gì là đặc điểm của chữ mà họ đã tạo ra?

Thưa: Theo Đắc Lộ, thì ông cho là các dấu thinh, hay nói cách bình dân là các dấu, là tinh thần của chữ Quốc ngữ. Nhưng ngày nay, nhiều nhà ngữ học không đồng ý với Đắc Lộ, mà các vị đó cho rằng, đặc điểm của chữ Quốc ngữ là sự biến dạng về ngữ tố (nói việc Đắc Lộ kể ra 6 dấu láy ở tiếng Hi Lạp ứng vào chữ Quốc ngữ).

20. Hỏi: Thời xưa người Tây phương đã nhận xét tiếng Việt giống như âm nhạc, có đúng không?

Thưa: Vào đầu thế kỷ 17, nhiều người Tây phương đã nhận xét như thế. Linh mục Đắc Lộ, Borri, Marini nghe tiếng Việt thì cho như là nghe một bài hát. Marini ca tụng lối phát âm tài tình trong tiếng Việt, nên ông cho rằng người Việt bẩm sinh đã là nhạc sư rồi. Còn Đắc Lộ lại đem so sánh các giọng trong tiếng Việt với 6 cung nhạc: Đồ, Rê, Mi, Fa, Sol, La.

Đến như ngày nay, nhiều người Tây phương khi nghe tiếng Việt lần thứ nhất cũng lấy làm lạ. Chúng tôi nhớ hồi còn ở Âu châu, trong dịp nói chuyện với một người bạn Việt Nam, thì tôi bỡ ngỡ, vì thấy các bạn của tôi là người Pháp, Liban, Thụy Sĩ cùng chạy đến bao quanh hai người chúng tôi, để nghe chúng tôi nói tiếng Việt. Hỏi ra mới biết các ông bạn Tây Phương này, lần thứ nhất nghe nói tiếng Việt lên lên xuống xuống, nên họ lấy làm lạ quá.

21. Hỏi: Tiếng Việt của chúng ta có nhiều thinh (giọng) như thế, chắc những người Âu châu đến xứ ta vào thế kỷ 17 khó học lắm thì phải?

Thưa: Vào đầu thế kỷ 17, ngay những người Âu châu đã sáng lập chữ Quốc ngữ, khi bắt đầu học tiếng Việt đều coi là khó quá, và nản chí hết. Vì, nếu phát âm lầm, sẽ làm sai lạc hẳn ý nghĩa, nhiều khi còn có nghĩa xấu. Chính Đắc Lộ đã báo cho những người Tây phương học tiếng Việt, phải rất cẩn thận; nếu không, thay vì nói “đi mua cá” thì lại nói “đi mua cà”, “chém tre” thì nói ra “chém trẻ”, “trông cậy” lại được phát âm là “trồng cây”, v.v….

22. Hỏi: Chữ Quốc ngữ được sáng lập từ đầu thế kỷ 17, thế mà vào năm 1941, chúng ta thấy Hội Truyền Bá Chữ Quốc ngữ còn phải hoạt động mạnh mẽ để truyền bá thứ chữ này. Như vậy chứng tỏ từ thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20, chữ Quốc ngữ chưa được đa số người Việt Nam biết tới chăng?

Thưa: Thưa đúng thế. Lý do vì cho đến cuối thế kỷ 19, văn tự chính thức của Việt Nam vẫn là chữ Nho, mặc dầu người ta cũng sử dụng chữ Nôm trong nhiều trường hợp thông thường. Riêng chữ Quốc ngữ, hầu như chỉ có một số người trong giới tu sĩ Công Giáo biết, chứ không được phổ biến rộng rãi như chữ Nho và chữ Nôm.

23. Hỏi: Xin linh mục cho chúng tôi hỏi một câu chót: Hiện nay người ta đã khám phá hết những tài liệu liên quan đến chữ Quốc ngữ từ năm 1620 đến 1659 chưa?

Thưa: Theo như chúng tôi nghĩ, thì trong giai đoạn đó, có thể còn nhiều tài liệu quý mà chưa ai khám phá ra. Khi chúng tôi nghiên cứu để xuất bản cuốn sách Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 – 1659, cũng chỉ mới khám phá được phần nào. Chúng tôi hy vọng rằng, còn nhiều nhà nghiên cứu  khác sẽ khám phá thêm được nhiều tài liệu quan trọng, hầu hoàn thành bộ Lịch sử chữ Quốc ngữ vào giai đoạn đầu tiên.

TINH VIỆT VĂN ĐOÀN

 Sài Gòn, ngày 17-11-1972
Nguồn: dongten.net (08.09.2023)

 

Friday, September 8, 2023

Tại sao Giáo hội của Chúa Kitô là duy nhất, thánh thiện và tông truyền?


Hỏi:

xin cha giải thich : Những người chỉ trích Giáo Hội nêu lý do là trong Kinh Thánh không tìm đâu ra những từ ngữ như: duy nhất ,thánh thiện , công giáo và tông truyền. Vậy từ đâu Giáo Hội Công Giáo có những đặc tính trên đây ? và nếu không gia nhập Giáo Hội Công Giáo thi có được cứu rỗi không?

Trả lời:

Các giáo phái ngoài Công Giáo từ xưa đến nay vẫn thường chỉ trích Giáo Hội Công Giáo là thiếu nền tảng Kinh Thánh nên đã phạm nhiều lầm lỗi. Sở dĩ thế vì họ – các nhóm Tin Lành nói chung- chì tin có Kinh Thánh (sola scriptura) nhưng họ cắt nghĩa Kinh Thánh theo cách đọc và hiểu của riêng họ nên mới đả kích Giáo Hội như vậy. Thật ra, Giáo Hội Công Giáo không những có Kinh Thánh mà còn có thêm những nguồn suối chân lý khác như Mặc khải ( revelatio) Thánh Truyền ( Traditio) và Quyền Giáo Huấn (Magisterium) là những nền tảng mà các giáo hội ngoài Công Giáo không có và cũng không nhìn nhận giá trị. Vì thế, ta không ngạc nhiên khi có sự khác biết lớn lao giữa Công Giáo và các giáo phái về nhiều lãnh vực của đức tin. Liên quan đến bản chất và sứ mệnh của Giáo Hội, thì sau đây là những lý do để trả lời câu hỏi nêu ra:

 

I. Trong Kinh Tin Kinh của Công Đồng Nicene đọc ngày Chúa Nhật và các ngày lễ trọng, Giáo hội tuyên xưng “ có Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”.

1- Giáo Hội duy nhất :

Giáo Hội là duy nhất vì Chúa Kitô chỉ thiết lập Giáo Hội này một lần trên nền tảng các tông đồ mà Phêrô là Đá Tảng :

“ Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần Sẽ không thắng nổi.” ( Mt 16:18)

Như thế, Giáo Hội là duy nhất vì bắt nguồn từ “ Khuôn mẫu tối cao và nguyên lý của mầu nhiệm này nằm trong Ba Ngôi của một Thiên Chúa duy nhất là Cha và Con trong Thánh Thần” ( UR 2, SGLGHCG, số 813).

Nói khác đi, Giáo Hội là duy nhất vì Đấng sáng lập là Chúa Kitô cũng là Thiên Chúa duy nhất cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong một Thiên Chúa có chung một bản thể và uy quyền. như nhau. Như thế đặc tính duy nhất của Giáo Hội thể hiện mầu nhiệm duy nhất của một Thiên Chúa có Ba Ngôi Vị

Tính chất độc nhất này của Giáo hội đã được Thánh Công Đồng Vatican II minh xác như sau: “ Đó là Giáo Hội độc nhất của Chúa Kitô mà chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính là duy nhất. thánh thiện, công giáo và tông truyền. Sau khi phục sinh, Đấng cứu chuộc chúng ta đã trao phó cho Phêrô chăn dắt Giáo Hội đó.(Ga 21:17). Người phó thác cho Phêrô cũng như cho các Tông Đồ khác truyền bá , cai quản (Mt 28:18 )…Như một xã hội được thiết lập qui củ trên trần gian, Giáo Hội ấy “tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo” do Đấng kế vị Phê rô và các Giám Mục hiệp thông với ngài điều khiển…(x. Lumen Gentium, số ��

2- Giáo Hội Thánh Thiện:

Giáo Hội thánh thiện vì Chúa Kitô , Đấng sáng lập và là Đầu của Giáo Hội được tuyên xưng là

“Đấng Thánh suy nhất “ cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, đã yêu thương Giáo Hội như hiền thê của mình.. .vì thế Giáo Hội là Dân thánh của Thiên Chúa và các thành viên của Giáo Hội được gọi là “các thánh” (SGLGHCG số 823)

Tuy nhiên, do bản chất loài người đã bị băng hoại vì tội nguyên tổ, cho nên các thành viên lớn nhỏ của Giáo Hội chưa hoàn toàn là ‘các thánh” như tước hiệu được ban cho. Nghĩa là Giáo Hội vẫn bao gồm những người có tội đang cần sám hối để xin Chúa tha thứ và thánh hóa hầu xứng đáng là “ Dân thánh của Người” trong Giáo Hội có bản chất thánh thiện vì Chúa Kitô, Đầu của Giáo Hội là Đấng Thánh, trọn lành.

3- Giáo Hội là công giáo (catholic=universal) đặc tính này bắt nguồn từ chính Chúa Kitô, Đấng sáng lập Giáo Hội, qua hai sự kiện cụ thể được ghi lại trong Kinh Thánh Tân Ước như sau:

a-Trược hết, sau khi giáng sinh ở Bethlehem, Chúa đã tỏ mình cho dân ngoại qua ánh sao lạ mời gọi và đẫn đường cho ba chiêm tinh gia cũng quen gọi là Ba Vua, từ phương Đông đến thờ lậy Người. (Mt 2: 1-12)Sự kiện này cho thấy rõ tính phổ quát ( universality) của Ơn Cứu Độ mà Chúa mang đến không phải chỉ dành riêng cho một dân tộc nào, – kể cả dân Do Thái, vốn là Dân riêng của Thiên Chúa,- mà dành cho hết mọi dân tộc , thuộc mọi ngôn ngữ và văn hóa..

b- Thứ đến, trước khi về Trời, Chúa Kitô đã truyền cho các môn đệ mệnh lệnh sau đây: “ anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Co và Thánh Thần..” ( Mt 28:19).

Trước hết, đây là lời Chúa mời gọi mọi người không phân biệt màu da, tiếng nói , chủng tộc nhận biết Chúa và lãnh ơn cứu chuộc của Người ,vì “ Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta muốn cho mọi người được cứu độ và nhân biết chân lý.” ( 1Tm 2: 4).Đây cũng là lệnh truyền của Chúa Giêsu trước hết cho các Tông Đồ và các người kế vị trong Giáo Hội từ thời sơ khai cho đên ngày nay và cho đến ngày mãn thời gian, phải đi khắp nơi để rao giảng Phúc Âm cho muôn dân để mời gọi họ đón nhận Tin Mừng hầu được cứu rỗi như lòng Chúa mong muốn..

Thêm một lần nữa, đây chính là nét phổ quát của Ơn Cứu Độ mời gọi hết mọi dân tộc không phân biệt mầu da , tiếng nói và văn hóa đón nhận để được sống hạnh phúc trường sinh trên Nước Trời.

Chúa đã thiếp lập Giáo Hôi như phương tiện hữu hiệu nhất để chuyên chở Ơn Cứu Độ của Người đến cho những ai có thiện chí muốn đón nhận.Và phép Rửa là cửa ngõ đi vào Giáo Hội này.

Chính vì nét phổ quát này của Ơn Cứu Độ mà Giáo Hội của Chúa được gọi là Công Giáo (Catholicam, Catholic, Catholique.= Universal) vì mục đích mời gọi hết mọi người gia nhập để trở thành Dân Thiên Chúa và hầu nhận lãnh Ơn Cứu Chuộc của Chúa Kitô.

Hơn nữa, Giáo Hội là Công Giáo vì có Chúa Kitô hiện diện trong Giáo Hội này : “ đâu có Chúa Kitô thì đấy có Giáo Hội Công Giáo” theo lời dạy của Thánh Ignatiô thành Antiokia ( Sđd, số 795 (830). Người không những hiện diện mà còn là Đầu của Giáo Hội như Thánh Phaolô đã dạy như sau:

“ Người ( Chúa Kitô) cũng là Đầu của thân thể; nghĩa là Đầu của Hội Thánh..” ( Cl 1:18; Ep 4: 15)

Tóm lại, Giáo Hội là Công Giáo vì được Chúa Kitô thiết lập và sai đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân trên khắp địa cầu cho đến thời viên mãn.Cũng vì đặc tính phổ quát này mà Giáo Hội có bản chất truyền giáo ( missionary, evangelical) trong sứ mệnh của mình..

Sau hết , cũng cần nói lại ở đây một lần nữa là từ ngữ “ Công Giáo” ở đây hoàn toàn không có nghĩa là “công cộng=public” như có người,vì kém hiểu biết, đã tự chế và dich sai ra Anh ngữ như trên nhằm mục đích đả phá Giáo Hội, vì cho là Công Giáo muốn trở thành Quốc Giáo nên mới tự xưng là “Đạo cộng cộng=Public Religion”, một từ ngữ không hề có trong Tự điển các Tôn Giáo trên thế giới..

4- Giáo Hội Tông Truyền ( Apostolic): Giáo Hội là Tông Truyền vì được Chúa Kitô thiếp lập trên nền tảng các Tông Đồ mà Phêrô là “Đá Tảng” ( Mt 16:18; Ep 2:20; Cv 21:14). Chúa đã sai các Tông Đồ đi loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Người cho mọi dân tộc, tức là cho các ông được tham gia vào Sứ Vụ rao giảng và Cứu độ của Chúa cùng mục đích như Chúa Cha đã sai Người đến trần gian:

“Như Chúa Cha đã sai Thầy

Thí Thầy cũng sai anh em “ ( Ga 20:21)

Như vậy các Tông Đồ đã nhân lãnh trực tiếp từ Chúa Giêsu sứ mệnh cai quản Giáo Hội để tiếp tục Sứ Vụ rao giảng và cứu độ của Chúa cho đến ngày cánh chung. Các Tông Đồ đã chọn những người kế vị các ngài là các Giám mục được tuyển chọn và truyền chức thánh qua việc đặt tay ( 1 Tm 4: 14; 5: 22; 2Tm 1:6) để tiếp tục sứ vụ của các ngài trong việc cai quản , dạy dỗ và thánh hóa Dân Chúa trong Giáo Hội , với sự cộng tác và vâng phục của các linh mục và phó tế, là những cộng sự viên đắc lực của các Giám mục.( Lumen Gentium số 20). Các Giám mục cũng vâng phục và hiệp thông trọn vẹn với Đức Thánh Cha là người kế vị Thánh Phêrô, Tông Đồ cả mà Chúa Kitô đã đặt lên để “ chăn dắt các chiên con và chiên mẹ của Thầy.” ( Ga 21: 15-17).Đức Thánh Cha cũng là Giám mục Rôma và là Thủ Lãnh Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ ( Universal Catholic Church).Hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ là các Giáo Hội Công Giáo địa phương ( Local Church) hay còn gọi lá các Giáo Phận ( Diocese) do một Giám Mục chinh tòa ( Ordinary) cai quản.

Đó là tất cả ý nghĩa của đặc tính tông truyền của Giáo Hội Cộng Giáo. Các giáo phái ngoài Công Giáo -trừ Chính Thống Giáo- thiếu đặc tính quan trọng này nên không thể có các bí tích Thánh Thể, Hòa giải, Thêm sức, và Sức dầu hữu hiệu ( valid) được vì họ không có Bi Tích truyền Chức Thánh (Holy Orders) mà Chúa Giêsu đã thiết lập trong Bữa Tiêc Ly để nhờ đó các thừa tác viên loài người là linh mục và Giám mục được chia sẻ Chức Linh Mục đời đời của Chúa Kitô, Thầy Cả Thượng Phẩm theo phẩm trật Men-ki-xê-đê” ( Dt 5:10). Nhờ được chia sẻ Chức Linh Mục này mà Giáo Hội tiếp tục dâng Hy tế đền tội của Chúa Kitô trên bàn thờ mỗi ngày khi các thừa tác viên có chức linh mục là Giám mục và linh mục.cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn ( The Eucharist)

II- Về câu hỏi thứ hai : nếu không gia nhập Giáo Hội Công Giáo thì có được cứu rỗi hay không, xin được phân biệt 2 điều quan trọng sau đây:

1-Thứ nhất, đối với nhũng người không vì lỗi của họ mà không biết Chúa Kitô và Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội thật được Chúa thiết lập làm phương tiện hữu hiệu để ban ơn cứu chuộc, thì họ vẩn có thể được cứu độ theo lời dạy sau đây của Giáo Hội:

“ Đúng thế, những người không do lỗi của mình mà không biết đến Phúc Âm của Chúa Kitô và Giáo Hội của Ngái, nhưng thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa và nhờ ơn sủng của Người mà hành động để làm trọn thánh ý của Chúa theo như lương tâm của họ mặc khải cho họ và truyền dạy họ , thì họ có thể đạt tới ơn cứu độ muôn đời. “ ( SGLGHCG số 847, LG 16)

Nói rõ hơn, trước khi Đạo Công Giáo được các thừa sai tây phương đem sang rao giảng ở Việt Nam vào cuối thể kỷ 16, thì tổ tiên chúng ta không có cách nào biết được Chúa Kitô và Phúc Âm của Người. Nhưng đó hoàn toàn không phải là lỗi của cha ông chúng ta vì không có ai rao giảng hay nói cho biết thì làm sao các ngài biết được. Tuy nhiên, nếu các ngài sống theo tiếng nói của lương tâm mình để làm điều lành tránh sự dữ, sự tội thì Chúa vẩn có thể cứu họ dù cho họ không được chịu phép rửa và gia nhập Giáo Hội của Chúa Kiô.

2- Ngược lại, “những người đã biết Chúa, biết Giáo Hội của Chúa là Giáo Hội thật , là phương tện cứu rỗi cần thiết mà vẩn không muốn gia nhập, hoặc đã gia nhập qua Phép Rửa nhưng lại không kiên trì sống đức tin trong Giáo Hội này thì không thể được cứu rỗi.” (Sđd, số 846)

Nói khác đi, những ai đã được rửa tội và sống trong Giáo Hội Công Giáo rồi , nhưng vì một lý do bất mãn nào đó mà rời bỏ Giáo Hội để gia nhập một giáo phái khác, hoặc chối bỏ đức tin Công Giáo để sống như người vô thần, thì “không thể được cứu độ” như Giáo Hội dạy trên đây.

Nhưng cũng cần giải thích thêm là tuy việc gia nhập Giáo Hội qua phép Rửa là cần thiết cho sự cứu rỗi , nhưng gia nhập không thôi chưa đủ, cũng như được rửa tội rồi cũng chưa chắc chung cuộc sẽ được cứu rỗi , trừ các trẻ em nhỏ mới sinh hoặc chưa đủ trí khôn biết lành biết dữ đã chết sau khi được rửa tội. Đối vói những người đã có đủ trí khôn..thì gia nhập Giáo Hôi không giống như có Passport và xin được Visa là chắc chắc chắn được du lịch đến quốc gia nào đòi phải có Visa nhập cảnh. Được rửa tội và gia nhập Giáo Hội mới chỉ là bước đầu cần thiết cho một tiến trình dài để lớn lên trong đức tin và sống đức tin ấy qua nhiều thử thách của đời sống Kitô hữu giữa trần gian.

Muốn được cứu độ, thì trước hết phải có đức tin vì “ không có đức tin thì không thể đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phát phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người.” ( Dt 11:6)

Nhưng đức tin phải đi kèm với hành động cụ thể nói lên niềm tin ấy , nếu không thì “ đó là đức tin chết” như Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ dạy. ( Gc 2:17.).

Thật vậy, đức tin phải được thể hiện cụ thể bằng đức mến. Nghĩa là tin có Chúa thì phải yêu mến Người, cố gắng sống theo đường lối của Chúa, cụ thể là thực thi mọi giới răn của Người như Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ xưa :

“ Ai yêu mến Thầy ,thì sẽ giữ lời Thầy

Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy

Cha của Thầy và Thầy sẽ đến ở với người ấy.( Ga 14:23)

Giữ lời Thầy có nghĩa là thực hành hai giới luật quan trong nhất là mến Chúa và yêu người như Chúa Giêsu đã trả lời cho một kinh sư kia .( Mc 12:28-31)

Thực thi những giới răn của Chúa là chứng minh cách cụ thể đức tin và lòng mến Chúa thực sự của mình. Nếu không sẽ chỉ là người Công giáo có tên ( Nominal Catholics) chứ không phải là người tín hữu thực hành (practicing faithfuls).Và nếu chỉ là người tín hữu có tên thì việc gia nhập Giáo Hội và lãnh phép rửa sẽ chẳng giúp ích gì cho phần rỗi của ai, vì thiếu thiện chí cộng tác với ơn thánh để được cứu rỗi. Nói rõ hơn, được rửa tội và gia nhập Giáo Hội rồi , nhưng nếu không thi hành những cam kết ( baptismal promises) khi lãnh bí tích này là tin và yêu mến Chúa hết lòng đi kèm với quyết tâm xa lánh mọi tội lỗi và sự dữ thì ơn phép rửa cũng trỏ nên vô ích mà thôi.

Thật vậy, Chúa là tình thương và giầu lòng tha thứ. Công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô có giá trị tuyệt đối. Nhưng nếu ta không cộng tác với thiện chí muốn được cứu rỗi thể hiện qua nỗ lực chê ghét tội lỗi và quyết tâm sống theo đường lối của Chúa như Giáo Hội dạy thì Chúa không thể cứu ai được, căn cứ vào chính lời Chúa Giêsu phán dạy sau đây:

“ Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa , lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.”( Mt 7:21)

Đó là tất cả những gì người tín hữu chúng ta cần biết dựa trên giáo lý, tín lý và Kinh Thánh của Giáo Hội để giúp chúng ta thêm yêu mến Giáo Hội và vững tin để sống và thực hành đức tin trong Giáo Hội là con Tàu đưa chúng ta đến bến bờ hạnh phúc, nhờ lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô được ban phát dồi dào cho chúng ta qua sứ vụ của Giáo Hội là Thân Thể nhiệm mầu của Người ở trần gian.

Ước mong những giải thích này thỏa mãn các câu hỏi được đặt ra.

-------------------------

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

WORLD WORLD